vanban.org

Bản án 01/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 24/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đại T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!!
HUYỆN!HÀ!TRUNG!
TỈNH!THANH!HOÁ!
!!
B¶n!¸n!sè:!01/2019/HS!-ST!
!
Ngµy:!24-01-2019!
!
!
!
!
!
!
!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!HÀ!TRUNG,!TỈNH!THANH!HOÁ!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán-"Chủ"toạ"phiên"toà: Ông Lê Văn Hồng

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Ông Đoàn Thân

2. Bà Lê Thị Đạm

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thanh Hương – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Doãn Thị Luyến - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 01 năm 2019 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2018/HSST ngày 21/12/2018 đối với bị cáo:

Trần!Đại!T; sinh năm 1988; tại xã TQ, huyện TT, tỉnh Thanh Hoá; trú tại: đội 2, nông trường, xã TQ, huyện TT, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh T (đã chết) và bà Lê Thị B; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.

Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/9/2018 đến ngày 24/9/2018 chuyển tạm giam đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người"làm"chứng: Ông Vũ Xuân T, sinh năm 1950

Trú tại: tiểu khu 1, thị trấn HT, huyện HT, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.

"

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ, ngày 18/9/2018 tại tiểu khu 6, thị trấn Hà Trung, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Trung phát hiện, bắt quả tang Trần Đại T đang cầm bên tay trái một gói nhỏ màu trắng, tiến hành kiểm tra thấy bên ngoài bọc nilon màu trắng, tiếp đến là lớp giấy trắng, trong cùng có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn nghi là ma túy. Ngay tại chỗ, T khai nhận đó là ma túy vừa mua để sử dụng. Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và niêm phong vật chứng.

Tang vật thu giữ gồm: Một gói nhỏ bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng, bên trong là lớp giấy trắng, trong cùng chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn, được niêm phong ký hiệu “Vụ Trần Đại T”.

Tại bản kết luận giám định số: 2014/MT-PC09 ngày 23/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu “Vụ Trần Đại T” gửi giám định là ma túy, có trọng lượng (khối lượng) 1,856g loại: Heroine.

Quá trình điều tra, Trần Đại T khai nhận: Khoảng 10 giờ 45 phút, ngày 18/9/2018 T đi nhờ xe của người đi đường từ đội 2, nông trường, xã TQ, huyện TT xuống huyện HT mua ma túy sử dụng. Đến khu vực nhà máy thuốc lá Thanh Hóa thuộc tiểu khu 3, thị trấn HT, T xuống xe và đi bộ vào đường bên cạnh nhà máy khoảng 300m thì gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi không biết tên, địa chỉ, T đưa cho người đàn ông 1.750.000 đồng, người đàn ông cầm tiền và đưa cho T một gói ma túy được bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng. T cầm gói ma túy ở tay trái rồi đi ra bắt xe buýt về, đến gần khách sạn Lam Quân thuộc tiểu khu 6, thị trấn Hà Trung thì bị Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ gói ma túy T đang cầm bên tay trái.

Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 20/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được và bản kết luận giám định, đủ cơ sở khẳng định: Ngày 18/9/2018, Trần Đại T đã có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy, loại heroine, có khối lượng 1,856 gam nhằm mục đích sử dụng trái phép. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Đây là loại chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người, là một trong những nguyên nhân chính gây ra các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giám nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo theo điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Trong vụ án này, bị cáo khai đã mua ma túy ma túy của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, do bị cáo không biết tên và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

[3]. Về"vật"chứng: Số ma túy cơ quan điều tra thu giữ được còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên phải tịch thu tiêu huỷ.

[4]. Về"án"phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH!

Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

1. Về tội danh: Bị cáo Trần!Đại!T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Đại T 42 (bốn"mươi"hai)"tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 18/9/2018.

3. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: Toàn bộ số Heroine còn lại sau giám định, tất cả được đựng trong phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành được dán kín, niêm phong (Đặc điểm của phong bì niêm phong theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Trung và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hà Trung ngày 23/01/2019).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6, Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Trần Đại T phải chịu 200.000đ (Hai"trăm"nghìn"đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ