vanban.org

Bản án 01/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 22/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H (Tên gọi khác: Nguyễn Ngọc H) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện C T và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện C T ngày 16/4/2019). 4. Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngoch H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H (Tên gọi khác: Nguyễn Ngọc H) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C T
TỈNH QUẢNG NINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2019/HS-ST
Ngày 22/4/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C T, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hồng Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Cao Kỳ

2. Ông Nguyễn Xuân Xình

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thảo Bình - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C T, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lam Xuân Cao - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện C T, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2019 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Ngọc H (Tên gọi khác: Nguyễn Ngọc H)

Sinh ngày: 19/11/1994, tại xã H L, huyện H L, tỉnh Th H; Nơi cư trú: Thôn N Đ, xã Đ T, huyện C T, tỉnh Q N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): lớp 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc X và bà Mai Thị T; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: chưa; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2019 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện C T, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

+Những người làm chứng: Nguyễn Anh Đ, Nguyễn Đình Tr. Đều vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 12/02/2019, tại khu vực đường Nguyễn Trãi thuộc khu 3, thị trấn C T, huyện C T, tỉnh Quảng Ninh, công an huyện C T bắt quả tang Nguyễn Ngọc H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: Tại túi quần phía trước bên trái 01 túi nilon màu trắng bên trong có 03 túi nilon màu trắng, kích thước lần lượt là (2x2,3) cm, (2x2) cm, (1x1,7) cm , trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng được hàn kín các mép; Thu tại túi quần phía trước bên phải 01 ống nhựa màu trắng dài 12 cm, đường kính 0,5 cm và 01 ống thủy tinh hình chữ U màu trắng bị gãy một đầu, một đầu dài 07 cm, một đầu dài 03 cm, đường kính 01 cm, một đầu ống thủy tinh gắn ống nhựa màu trắng dài 10 cm, đường kính 0,5 cm, trên phần ống nhựa có gắn 01 nắp chai nhựa màu đỏ đường kính 03 cm, dày 01 cm bị đục 02 lỗ, tại vị trí gắn giữa ống nhựa và ống thủy tinh có dính băng dính màu đen và màu xanh, bên trong ống thủy tinh có các vết màu trắng; Thu tại tay trái của H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone có số IMEI 353272071584716. Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Ngọc H số tiền 520.000 đồng.

Số vật chứng nghi là chất ma túy và có chứa chất ma túy thu giữ được trong vụ án, cơ quan điều tra đã niêm phong và trưng cầu giám định. Tại bản Kết luận giám định số: 248/GĐMT ngày 14/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Quảng Ninh đã kết luận: Mẫu vật kí hiệu từ M1 đến M4 gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine như sau: M1 (Túi 2x2 cm): 0,139 gam; M2 (Túi 2x2,3cm): 0,149 gam; M3 (Túi 1,1,7cm):0,021 gam; M4 (01 ống thủy tinh hình chữ U một đầu bị gãy, một đầu có gắn ống hút màu trắng, trong ống thủy tinh có bám vết màu trắng đục): dạng vết không xác định được khối lượng.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc H khai: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 01/02/2019, bị cáo có mua của một người thanh niên không quen biết 03 gói ma túy đá với giá 800.000 đồng. Ngày 02/02/2019 bị cáo ra C T và đem giấu số ma túy đó ở ngoài vườn nhà bị cáo. Đến ngày 11/02/2019 bị cáo lấy ½ gói ma túy ra sử dụng. Hôm sau (12/02/2019), trước khi ra xưởng sứa làm việc, bị cáo lấy toàn bộ số ma túy còn lại cho vào túi quần phía trước bên trái và cho bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào túi quần phía trước bên phải để đem ra xưởng sứa sử dụng. Khoảng 13 giờ bị cáo từ nhà đi ra xưởng sứa, khi đến khu vực gần quán phở bò Cồ Nghĩa ở thị trấn C T, bị cáo dừng lại để mua một số đồ dùng sinh hoạt, thì bị cơ quan công an huyện C T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang bị cáo đang cất giữ ma túy, thu của bị cáo 03 gói ma túy, bộ dụng cụ sử dụng ma túy, chiếc điện thoại di động và 520.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 01/KSĐT ngày 28/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C T, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa kiểm sát viên có ý kiến: Căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Ngọc H đã có hành vi tàng trữ 0,309 gam ma túy Methamphetamine như bản cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H với mức hình phạt từ 12 đến 15 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 12/02/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có công việc ổn định. Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động và 520.000 đồng.

Ý kiến của bị cáo: Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng, không oan. Bị cáo đã nhận thấy sai phạm của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về số tiền 520.000 đồng và chiếc điện thoại di động của bị cáo bị cơ quan công an thu giữ, bị cáo xin được nhận lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình thu giữ vật chứng và giám định, cơ quan công an huyện C T và cơ quan giám định đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang của công an huyện C T lập hồi 14 giờ ngày 12/02/2019, phù hợp với vật chứng, phù hợp với kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/02/2019 trên khu vực đường Nguyễn Trãi thuộc khu 3, thị trấn C T, huyện C T, tỉnh Quảng Ninh, Công an huyện C T đã bắt quả tang bị cáo Nguyễn Ngọc H đang có hành vi cất giấu 0,309 gam (0,139g +0,149g+0,021g) ma túy loại Methamphetamine còn gọi là ma túy đá trong túi quần của bị cáo với mục đích để sử dụng.

Hành vi cất giấu 0,309 gam ma túy của bị cáo Nguyễn Ngọc H đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện C T truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249 của Bộ luật hình sự qui định : 1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) …….. c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; [3] Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức rõ việc cất giữ ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Ma tuý đã và đang gây tác hại xấu cho sức khoẻ của người sử dụng; làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người và chính ma tuý là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung. [4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội. Sau khi bị phát hiện bắt giữ, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. [5] Về xử lý vật chứng: Sau khi giám định, số ma túy còn lại 0,19 gam Methamphetamine và 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy gồm: 01 ống thủy tinh gắn ống nhựa, vỏ bao gói, 01 nắp chai nhựa màu đỏ, 01 ống nhựa màu trắng, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành và không có giá trị, cần tịch thu và tiêu hủy theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Số tiền 520.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s là tài sản của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo theo qui định tại điểm a khoản 3 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. [6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ chất ma túy để sử dụng, không có tính chất vụ lợi. Bản thân bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật. [8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H (Tên gọi khác: Nguyễn Ngọc H) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Huỳnh 12 (Mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị tạm giữ (12/02/2019). 3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: 0,19 gam Methamphetamine; 01 ống thủy tinh gắn ống nhựa; vỏ bao gói (Trong phong bì niêm phong số 248/GĐMT ngày 14/02/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh); 01 nắp chai nhựa màu đỏ; 01 ống nhựa màu trắng. + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc H 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6s (đã qua sử dụng) và 520.000 đồng.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện C T và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện C T ngày 16/4/2019). 4. Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Ngọc H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 5. Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo Nguyễn Ngọc H. Căn cứ khoản 1 và khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/4/2019).

Cỡ chữ