vanban.org

Bản án 01/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre Tuyên án 21/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh K Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

N N N N

N

N

V T N M

U N

- T d - nh h

T NH N TR ____________________________________

ản án số: 01/2019/HS - ST

Ngày 21 - 01 - 2019

N N N

NƯỚ

N OÀ

N

V T N M

TOÀ N N N N U N , TỈN BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Th m phán - hủ t a phiên tòa: Ông Lê Văn Phận.

ác H i th m nhân dân:

1. à Lê Thị Thúy Phượng.

2. Ông Hà ông Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Ng c Tú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh ến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh ến Tre xét xử sơ th m công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33 2018 TLST - HS ngày 07 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019 QĐXXST - HS ngày 07 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh K (M) - Sinh năm: 1992.

Nơi sinh: tỉnh ình Phước.

Nơi cư trú: thôn D, xã PV, huyện GM, tỉnh ình Phước.

Nghề nghiệp: Làm thuê; trình đ h c vấn: 9 12; dân t c: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị T, có 03 người con.

Tiền án, tiền sự: Không.

ị cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 32/2018/HSST - L ĐKN T ngày 07/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh ến Tre.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hồ Thanh Yên - Sinh năm: 1993; nơi cư trú: ấp TT, xã TT, huyện L, tỉnh ến Tre (vắng mặt).

* Người làm chứng:

1. hị Nguyễn Ng c Thúy N - Sinh năm: 1995; hỗ ở hiện nay: ấp TT, xã TT, huyện L, tỉnh ến Tre (có mặt).

2. hị Nguyễn Thị Ng c - Sinh năm: 1962; hỗ ở hiện nay: ấp TT, xã TT, huyện L, tỉnh ến Tre (có mặt).

3. Anh Lê Minh K- Sinh năm: 1989; Nơi cư trú: ấp TT, xã TT, huyện L, tỉnh ến Tre (vắng mặt).

4. Ông Lê Đình N - Sinh năm: 1951; Nơi cư trú: ấp TT, xã TT, huyện L, tỉnh ến Tre (vắng mặt).

N

UN VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 01 tháng 8 năm 2018, Nguyễn Thanh K đến bến xe Miền Đông ở Thành Phố Hồ hí Minh để đón xe về tỉnh ến Tre. Tại đây, K gặp và mua của m t người nam tên Minh (không rõ địa chỉ) gói ma túy để sử dụng. Khoảng 21 giờ cùng ngày, K đến thuê phòng tại phòng số 103 nhà nghỉ Đăng Nguyên thu c ấp Tân Thạnh, xã Tân Thiềng, huyện L, tỉnh ến Tre để tr .Trong phòng tr lúc này có bị cáo và bạn trai là Hồ Thanh Yên . Lúc này Yên đi làm, K vào phòng số 103 lấy 01 gói ma túy lớn và 01 gói ma túy nhỏ để trên bàn rồi đi ngủ. Khoảng 12 giờ ngày 02 tháng 8 năm 2018, K và Yên d n dẹp phòng sau đó K lấy gói ma túy nhỏ và rủ Yên cùng sử dụng chung. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, thì bị lực lượng ơ quan ảnh sát điều tra ông an huyện L đến kiểm tra và phát hiện số ma túy nói trên.

Theo Kết luận giám định số 06 2018 GĐMT ngày 04 tháng 8 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự ông an tỉnh ến Tre kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 08 gói nylon được niêm phong gửi giám định, ký hiệu A1 là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,7944 gam (hoàn trả mẫu giám định còn lại là 0,6085g).

Tại bản cáo trạng số: 31/CT - VKS L ngày 13/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh ến Tre đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thanh K (M) về t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm t i và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu và đề nghị H i đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 đến 02 năm tù.

Đối với Hồ Thanh Yên , mặc dù biết Nguyễn Thanh K đem gói ma túy về phòng số 103 nhà nghỉ Đăng Nguyên nhưng do phòng 103 do K thuê và gói ma túy trên là của K mua. Không có đủ chứng cứ xác định Yên có ý thức cùng K cất giấu gói ma túy trên để sử dụng nên không xem xét trách nhiệm hình sự.

Xử lý vật chứng: ăn cứ Điều 47 luật hình sự và Điều 106 luật tố tụng hình sự:

Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì chứa 0,6085g ma túy loại Methamphetamine được niêm phong, 01 h p màu trắng bên trong có chữ PANDORA và 01 l nhựa màu trắng, cao 07cm, đường kính đáy 03cm, đường kính miệng 2,8cm; 01 nắp nhựa màu đỏ, đường kính 2,8cm, trên nắp có 01 lỗ tròn trống và 01 lỗ gắn ống nhựa đưa ra ngoài; 01 cổ chai nhựa màu trắng, dài 5,3cm, đường kính miệng 2,5cm, đường kính đầu còn lại 03cm; 01 ống thủy tinh màu trắng, dài 09cm, đường kính 0,5cm; 01 nắp nhựa màu đỏ, đường kính 2,8cm.

Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an huyện CL đã trao trả:

01 điện thoại di đ ng hiệu NOKIA, màu đen, số IM I1: 356038084856749, số IM I2: 356038084936749; 01 điện thoại di đ ng hiệu NOKIA, màu đen, số IMEI: 359997051907412 cho Hồ Thanh Yên m.

01 điện thoại di đ ng hiệu OPPO, màu xanh-đen, số IM I1: 860885039303238, số IM I2: 860885039303220; 01 h chiếu số 3925535 mang tên Nguyễn Thanh K cho bị cáo.

N ẬN ỊN

T

N:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của ơ quan cảnh sát điều tra ông an huyện L, của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ tục quy định của luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của ơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định này là phù hợp.

[2] Về n i dung vụ án: Khoảng 16 giờ ngày 01 tháng 8 năm 2018, tại bến xe Miền Đông ở thành phố Hồ hí Minh, Nguyễn Thanh K mua ma túy của m t người tên Minh (không rõ địa chỉ) để sử dụng. Sau khi mua ma túy, K đến thuê phòng tại phòng số 103 nhà nghỉ Đăng Nguyên thu c ấp Tân Thạnh, xã Tân Thiềng, huyện L, tỉnh ến Tre để tr . Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, thì bị lực lượng ơ quan ảnh sát điều tra ông an huyện L đến kiểm tra và phát hiện.

Theo Kết luận giám định số: 06 2018 GĐMT ngày 04 tháng 8 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự ông an tỉnh ến Tre kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 08 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,7944g (hoàn trả mẫu giám định còn lại là 0,6085g).

Mặc dù bị cáo cho rằng việc bị cáo mua ma túy là để sử dụng chứ không nhằm mục đích mua bán nhưng khối lượng ma túy mà bị cáo mua và tàng trữ về tr ng lượng và chủng loại là thu c doanh mục cấm và có số lượng nhiều, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 luật hình sự năm 2015. Do vậy, việc truy tố bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng người, đúng t i, đúng pháp luật.

Xét thấy, bị cáo là người có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. ị cáo phạm t i với lỗi cố ý. Việc bị cáo sử dụng cũng như tàng trữ trái phép chất ma túy là gây khó khăn cho việc quản lý của cơ quan chức năng, gây mất an ninh tật tự tại địa phương nơi bị cáo phạm t i, cư trú. Đồng thời tiềm n nguy cơ phát sinh tôi phạm và các tệ nạn xã h i khác. Do vậy, cần có hình phạt thật nghiêm bằng hình thức cách ly bị cáo ra khỏi xã h i m t thời gian thì mới đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo và góp phần ngăn ngừa loại t i phạm này về sau.

Trong lượng hình, h i đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành kh n khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đang nuôi 03 con nhỏ. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của luật hình sự để làm căn cứ giảm nhẹ m t phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Đối với Hồ Thanh Yên , mặc dù có sử dụng chung ma túy với bị cáo nhưng ma túy là của bị cáo và Yên không có ý thức cùng K cất giấu gói ma túy trên nên không xem xét trách nhiệm hình sự.

Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải n p án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QU ẾT ỊN :

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh K (M) phạm t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

ăn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 luật hình sự xử phạt bị cáo 01 (m t) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: ăn cứ Điều 47 luật hình sự, Điều 106 luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong chứa 0,6085g ma túy loại Methamphetamine được niêm phong; 01 h p màu trắng bên trong có chữ PANDORA; 01 l nhựa màu trắng, cao 07cm, đường kính đáy 03cm, đường kính miệng 2,8cm; 01 nắp nhựa màu đỏ, đường kính 2,8cm, trên nắp có 01 lỗ tròn trống và 01 lỗ gắn ống nhựa đưa ra ngoài; 01 cổ chai nhựa màu trắng, dài 5,3cm, đường kính miệng 2,5cm, đường kính đầu còn lại 03cm; 01 ống thủy tinh màu trắng, dài 09cm, đường kính 0,5cm; 01 nắp nhựa màu đỏ, đường kính 2,8cm.

Các vật chứng đã được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL theo biên bản bàn giao ngày 15 tháng 11 năm 2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện CL và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL.

Ghi nhận việc cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an huyện CL đã trao trả: 02 điện thoại di đ ng hiệu NOKIA cho Hồ Thanh Yên m.01 điện thoại di đ ng hiệu OPPO, 01 h chiếu số 3925535 mang tên Nguyễn Thanh K cho bị cáo.

3. Về án phí: ăn cứ Điều 23 Nghị Quyết 326 U TVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i bu c bị cáo n p 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ th m.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ