- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn H _V"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ M’GAR | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂK LĂK Bản án số: 01/2019/HNGĐ-ST Ngày 20-02-2019. “V/v: Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ M’GAR, TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân :
1. Bà Nguyễn Thị Hoài Bão - Phó Chủ tịch Liên đoàn lao động huyện.
2. Ông Trương Minh Mẫn – Phó Bí thư Đảng ủy thị trấn Quảng Phú.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư M’gar, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 288/2018/TLST–HNGĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2018, về việc: “Xin ly hôn” . Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/QĐXX-ST ngày 11/01/2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Tô Thị Lan H, sinh năm 1999 – Có mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố Quyết T, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Lăk.
2. Bị đơn: Anh Lê Công V, sinh năm 1996- Vắng mặt Địa chỉ: Thôn 1A, xã Ea M, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN;
* Nguyên đơn: Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 04/10/2018 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Tô Thị Lan H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị Lan H và anh Lê Công V đăng ký kết hôn vào ngày 04/01/2018 tại Ủy ban nhân xã Ea M, huyện C, tỉnh Đăk Lăk trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống cùng với gia đình nhà chồng tại địa chỉ Thôn 1A, xã Ea M, huyện C, tỉnh Đăk Lăk.
Quá trình duy trì cuộc sống chung vợ chồng; thời gian đầu vợ chồng anh chị sống với nhau đầm ấm, hạnh phúc. Tuy nhiên chỉ được một thời gian ngắn thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, thường hay bất đồng về quan điểm, lối sống nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã lẫn nhau, sống thiếu tôn trọng nhau. Tuy nhiên mâu thuẫn chủ yếu chính là về kinh tế và cách đối xử của chồng và gia đình chồng với chị. Mặc dù chị đã có gắng nhịn nhục vì không muốn gia đình đổ vỡ nhưng vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng, hiện tại anh chị đã ly thân nhau từ tháng 01 năm 2018 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thẫn đã rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và duy trì. Vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh V.
- Về con chung: Chưa có con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn: Anh Lê Công V:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cho bị đơn là anh V nhưng anh V vắng mặt không lên Tòa án để làm việc. Vì vậy Tòa án không lấy được lời khai của anh V cũng như không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng:
Đối với Thẩm phán: Đã tuân thủ đúng quy định theo Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Tuân thủ đúng với các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
Đối với đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70; Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, không đến Tòa án tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật mà không có lý do chính đáng.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị Lan H và anh Lê Công V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn hợp pháp theo quy định của pháp luật. Quá trình duy trì cuộc sống hôn nhân, anh chị nảy sinh nhiều mâu thuẫn và kéo dài mà không có biện pháp hay ý thức khắc phục. Vì vậy căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H đối với anh V.
Về con chung: Chưa có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án nhân dân huyện CưM’gar đã tiến hành tống đạt, niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật cho bị đơn là anh Lê Công V, nhưng anh V vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt là phù hợp.
[2] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết là “Xin ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để xác định: Chị Tô Thị Lan H và anh Lê Công V đăng ký kết hôn ngày 04/01/2018 tại Ủy ban nhân xã Ea M, huyện C, tỉnh Đăk Lăk trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Quá trình duy trì cuộc sống chung vợ chồng; theo nguyên đơn chị H, giữa chị và anh V chỉ sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng. Nguyên nhân theo chị H là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, hay bất đồng về quan điểm, lối sống và trong sinh hoạt. Nay chị H xác định không còn tình cảm và không còn thương yêu chồng nữa, mâu thuẫn giữa hai người là rất trầm trọng và kéo dài, không thể khắc phục, hàn gắn, cố níu kéo cũng chỉ làm khổ nhau. Vì vậy chị H có nguyện vọng được ly hôn với anh V.
Qua kết quả xác minh tại địa phương thì được biết; sau khi kết hôn anh V và chị H chung sống với bố mẹ chồng tại thôn 1A, xã Ea M, huyện C, tỉnh Đăk Lăk chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì anh chị nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nên anh chị đã ly thân nhau từ đầu năm 2018 cho đến nay. Nay chị H có nguyễn vọng xin ly hôn với anh V, quan điểm của địa phương là đề nghị Tòa án giải quyết theo luật định.
[4] Tại phiên tòa; Nguyên đơn chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh V. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị đã rất trầm trọng và kéo dài. Trong thời gian xảy ra mâu thuẫn, mặc dù đã được hai bên gia đình, chính quyền địa phương động viên, hòa giải nhiều lần nhưng anh chị vẫn không có ý thức để hàn gắn, khắc phục và duy trì cuộc sống hôn nhân. Vì vậy căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ.
Về con chung: Anh chị chưa có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Về án phí: Nguyên đơn chị Tô Thị Lan H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; b khoản 2 Điều 227, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tô Thị Lan H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị Lan H được ly hôn với anh Lê Công V.
- Về con chung: Chưa có con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí HNGĐ-ST: Chị Tô Thị Lan H phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0006852, ngày 05/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CưM’gar, tỉnh ĐắkLắk.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
* Nơi nhận:
| - TAND tỉnh ĐắkLắk; - VKSND huyện CưM’gar; - CC THADS huyện CưM’gar; - Nguyên đơn; bị đơn; - UBND xã Ea M; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Quang Cảnh |