vanban.org

Bản án 01/2019/HC-ST — Hành chính

TAND Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ Tuyên án 28/11/2019 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Hữu T về việc yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 184/QĐ-XPVPHC ngày 20/10/2017, Quyết định số 187/QĐ-SĐXPVPHC ngày 01/11/2017 và Quyết định cưỡng chế số 190/QĐ-CCXP ngày 07/11/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, quận Bình Thủy, thành phố Cần Th…

Về chi phí thẩm định: Người khởi kiện phải nộp số tiền 4.340.000 đồng. Người khởi kiện đã nộp và thanh toán xong. Về án phí hành chính sơ thẩm: Ông Lâm Hữu T phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí ông Lâm Hữu T đã nộp theo biên lai thu số 008749 ngày 14/1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 01/2019/HC-ST Tuyên án 28/11/2019
Phúc thẩm Bản án 01/2020/QĐ-PT Tuyên án 26/11/2020

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "KK quyết định xử phạt vi phạm hành chính"
  • Tòa quyết gì? Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Hữu T về việc yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 184/QĐ-XPVPHC ngày 20/10/2017, Quyết định số 187/QĐ-SĐXPVPHC ngày 01/11/2017 và Quyết định cưỡng chế số 190/QĐ-CCXP ngày 07/11/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, quận Bình Thủy, thành phố Cần Th…
  • Căn cứ chính? Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 204 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2019/HC-ST
Ngày: 28/11/2019
V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính.
ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THUỶ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phùng Kim Toan

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Trọng Tuấn

2. Ông Huỳnh Văn Nhân

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương, thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy: Ông Phạm Văn Tú – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27 - 28 tháng 11 năm 2019 tại Toà án nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2017/TLST – HC ngày 14 tháng 11 năm 2017 về việc “Khiếu kiện Quyết định hành chính”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 715/QĐXXST – HC ngày 14 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Lâm Hữu T, sinh năm 1965. Địa chỉ: 9/15 Bùi Hữu Nghĩa, khu vực 7, Phường B, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ.

- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Bà Nguyễn Thị CH – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Dương Thị KT, sinh năm 1964. Địa chỉ: Bùi Hữu Nghĩa, khu vực 7, Phường B, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Người khởi kiện là ông Lâm Hữu T trình bày:

Ông được Ủy ban nhân dân (UBND) quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH05049 ngày 14/11/2014, thửa đất số 06, tờ bản đồ số 39, tổng diện tích 1.648,2m2. Đầu tháng 7/2017 ông tiến hành xây dựng nhà được UBND quận Bình Thủy cấp giấy phép xây dựng số 916/GPXD ngày 20/7/2017. Sau đó ông tiến hành xây dựng bờ kè hàng rào để bơm cát nâng nền sân và nền nhà trên phần đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không vi phạm lấn chiếm mương thoát nước công cộng. Vì ông không biết xây bờ kè để làm hàng rào cũng phải xin giấy phép xây dựng, vì vậy Ủy ban nhân dân Phường B kiểm tra và lập biên bản đình chỉ, hướng dẫn xin phép xây dựng và ông đã chấp hành.

Trong quá trình xác lập hồ sơ để xin phép, Ủy ban nhân dân phường cử cán bộ xuống đo đạc, kiểm tra hiện trạng và yêu cầu ông lùi vào 0,6m. Ông không đồng ý vì ông đã xây dựng đúng diện tích đất được cấp giấy chứng nhận. Sau đó, cán bộ địa chính quận Bình Thủy xuống đo đạc và yêu cầu ông lùi vào một bên 04m, một bên 3,4m, ông không đồng ý.

Ngày 20/10/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, quận Bình Thủy ra Quyết định xử phạt hành chính số 184/QĐ-XPVPHC, ngày 01/11/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B ban hành Quyết định số 187/QĐ-SĐXPVPHC sửa đổi bổ sung quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 184/QĐ-XPVPHC. Ngày 07/11/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B ban hành quyết định cưỡng chế số 190/QĐ-CCXP buộc ông phải phá bỏ công trình xây dựng. Việc ban hành quyết định trên ảnh hưởng đến quyền lợi của ông.

Nay ông yêu cầu Tòa án hủy bỏ 03 quyết định số 184/QĐ-XPVPHC ngày 20/10/2017, Quyết định số 187/QĐ-SĐXPVPHC ngày 01/11/2017 và quyết định cưỡng chế số 190/QĐ-CCXP ngày 07/11/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện người bị kiện là bà Nguyễn Thị CH trình bày:

Ngày 29/7/2017 ông Lâm Hữu T có khởi công các công trình xây dựng và không có giấy phép xây dựng. Đoàn kiểm tra lập biên bản và yêu cầu ông T tạm ngưng thi công và xin cấp giấy phép theo quy định.

Ngày 31/7/2017 ông T có làm đơn xin xây dựng hàng rào và UBND Phường đã nhận đơn và chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Đến ngày 11/10/2017 công trình xây dựng của ông T vẫn chưa được cấp giấy phép xây dựng nên Đoàn kiểm tra tiến hành lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính số 06/BB-VPHC. Ngày 13/10/2017 ông T có làm đơn giải trình về công trình xây dựng vi phạm. Ông T thừa nhận không có giấy phép xây dựng nhưng ông T cho rằng công trình xây dựng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông. Qua đo đạc ngày 16/10/2017 thì bờ kè ông T xây dựng có chiều dài 9,83m, chiều cao 1,15m.

Ngày 18/10/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, quận Bình Thủy ban hành Quyết định số 168/QĐ-XPVPHC. Tuy nhiên do có sai sót về kích thước nên ngày 19/10/2017 Đoàn kiểm tra lập biên bản vi phạm hành chính số 07/BB-VPHC.

Ngày 20/10/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B ban hành quyết định số 184/QĐ-XPVPHC (triển khai quyết định ngày 20/10/2017), ngày 01/11/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B ban hành Quyết định số 187/QĐ-SĐXPVPHC do có sai sót số chứng minh nhân dân của ông Lâm Hữu T (triển khai quyết định ngày 03/11/2017). Ngày 07/11/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B ban hành quyết định cưỡng chế số 190/QĐ-CCXP (triển khai quyết định ngày 13/11/2017). Việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, quận Bình Thủy ban hành quyết định trên là đúng trình tự, thủ tục, đúng quy định pháp luật. Phía người bị kiện yêu cầu giữ nguyên các quyết định đã ban hành.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị KT trình bày: Bà thống nhất các ý kiến của ông Lâm Hữu T về việc yêu cầu Tòa án hủy bỏ 03 quyết định số 184/QĐ-XPVPHC ngày 20/10/2017, Quyết định số 187/QĐ-SĐXPVPHC ngày 01/11/2017 và quyết định cưỡng chế số 190/QĐ-CCXP ngày 07/11/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ, công bố chứng cứ và đối thoại giải quyết vụ án nhưng các đương sự vẫn không thống nhất phương án giải quyết nên vụ án được đưa ra xét xử công khai.

Tại phiên toà hôm nay,

Các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như đã trình bày. Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các yêu cầu khác có liên quan (nếu có) người khởi kiện sẽ khởi kiện thành vụ án khác khi có yêu cầu và có đủ cơ sở chứng minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thuỷ phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân theo pháp luật Tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án, những người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà. Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của Luật Tố tụng hành chính về thẩm quyền giải quyết, tư cách những người tham gia tố tụng.

Về nội dung: Phần đất ông Lâm Hữu T sử dụng có sự chuyển dịch ra phía trước, dẫn đến hiện nay phần đất ông T đang sử dụng có một phần nằm trên mương thoát nước công cộng, không khớp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T. Phần bờ kè ông T xây dựng lấn chiếm mương thoát nước công cộng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bác yêu cầu khỏi kiện của ông Lâm Hữu T theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Người khởi kiện ông Lâm Hữu T yêu cầu hủy 03 quyết định hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ do các Quyết định này ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông nên đây là vụ khiếu kiện quyết định hành chính được quy định tại Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Sau khi nhận Quyết định, ông Lâm Hữu T không khiếu nại mà khởi kiện tại Tòa án nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật tố tụng hành chính 2015.

Về thời hiệu khởi kiện: Tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện là “01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính…”. Ông Lâm Hữu T nhận quyết định ngày 20/10/2017 đến ngày 21/11/2017 ông T khởi kiện tại Tòa án nên việc khởi kiện của ông Lâm Hữu T còn thời hiệu khởi kiện.

Về trình tự thủ tục, thời hạn, thời hiệu, thẩm quyền ban hành các Quyết định:

Về trình tự thủ tục: Ngày 25/7/2017 ông Lâm Hữu T xây dựng bờ kè nhưng không có giấy phép. Ngày 29/7/2017 ông Lâm Hữu T xây dựng 2/3 bờ kè thì Ủy ban nhân dân phường xuống lập biên bản, yêu cầu ngừng thi công và hướng dẫn thủ tục xin giấy phép. Ngày 31/7/2017 ông T có làm đơn xin xây dựng hàng rào. Đến ngày 11/10/2017 công trình xây dựng của ông T vẫn chưa được cấp giấy phép xây dựng nên Đoàn kiểm tra tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính số 06/BB-VPHC. Tuy nhiên, ngày 18/10/2017 Ủy ban nhân dân Phường B ban hành Quyết định số 168/QĐ-HBBBVPHC hủy bỏ biên bản vi phạm hành chính số 06/BB-VPHC do có sự thay đổi chiều dài của công trình xây dựng kè vi phạm. Ngày 19/10/2017 Ủy ban đã triển khai quyết định này cho ông T.

Ngày 20/10/2017 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B ban hành Quyết định số 184/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lâm Hữu T do ông T tổ chức thi công xây dựng bờ kè không có giấy phép xây dựng, nằm ngoài quyền sử dụng đất, lấn mương thoát nước công cộng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính số 07/BB-VPHC tháng 10 năm 2017 ngày 19/10/2017 để ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 184 là đúng quy định tại Điều 58, Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính.

- Về thời hiệu: Thời điểm phát hiện hành vi vi phạm của ông Lâm Hữu T là ngày 29/7/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B ra quyết định xử phạt ngày 20/10/2017 là còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

- Về thẩm quyền ban hành quyết định: Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B ban hành quyết định số 184/QĐ-XPVPHC ngày 20/10/2017, quyết định số 187/QĐ-SĐXPVPHC ngày 01/11/2017 và quyết định cưỡng chế số 190/QĐ-CCXP ngày 07/11/2017 theo đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về nội dung quyết định: Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ông T cho rằng ông không lấn mương thoát nước công cộng do ông xây dựng hàng rào nằm trong diện tích đất của ông. Ủy ban nhân dân Phường B, quận Bình Thủy cho rằng ông Lâm Hữu T lấn mương công cộng 0,6m nên yêu cầu ông T tháo dỡ công trình vi phạm.

Hội đồng xét xử nhận thấy, phần đất ông Lâm Hữu T sử dụng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 05049 ngày 14/11/2014 do Ủy ban nhân dân quận Bình Thủy cấp so với thực tế sử dụng đất theo sơ đồ hiện trạng đo đạc của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ không khớp nhau, có sự sai lệch tăng chiều dài về phần đất không công nhận phía sau: cạnh trái tăng 0.38m, cạnh phải tăng 1,05m so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông T được cấp. Do đó có sự chuyển dịch phần đất của ông T đang sử dụng ra phía trước, dẫn đến hiện nay phần đất ông T đang sử dụng có một phần nằm trên mương thoát nước công cộng, không khớp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T. Do đó các Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, quận Bình Thủy ban hành là đúng quy định. Do đó thiết nghĩ bác yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Hữu T về việc hủy bỏ 03 quyết định số:184/QĐ-XPVPHC ngày 20/10/2017, Quyết định số 187/QĐ-SĐXPVPHC ngày 01/11/2017 và quyết định cưỡng chế số 190/QĐ-CCXP ngày 07/11/2017 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, quận Bình Thủy ban hành là phù hợp.

Về chi phí đo đạc thẩm định: Ông Lâm Hữu T phải chịu số tiền 4.340.000 đồng. Số tiền này ông T đã nộp và thanh toán xong.

Về án phí: Ông Lâm Hữu T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 31, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm a, b khoản 2 Điều 193, Điều 204, khoản 1 Điều 206, khoản 3 Điều 345 Luật Tố tụng hành chính 2015;

- Điều 6, Điều 38, Điều 58, Điều 66, Điều 67, Điều 68 Luật xử lý vi phạm hành chính.

- Khoản 2 điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Hữu T về việc yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 184/QĐ-XPVPHC ngày 20/10/2017, Quyết định số 187/QĐ-SĐXPVPHC ngày 01/11/2017 và Quyết định cưỡng chế số 190/QĐ-CCXP ngày 07/11/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

2. Về chi phí thẩm định: Người khởi kiện phải nộp số tiền 4.340.000 đồng. Người khởi kiện đã nộp và thanh toán xong.

3. Về án phí hành chính sơ thẩm: Ông Lâm Hữu T phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí ông Lâm Hữu T đã nộp theo biên lai thu số 008749 ngày 14/11/2017 thành án phí. Người khởi kiện đã nộp xong án phí.

4.Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ