- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án dân sự sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? 2015; khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 91, khoản 3 Điều 144, Điều 147, khoản 2
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 01/2019/DS-ST Ngày: 05/03/2019 |
HUYỆN CÀNG LONG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Linh. Các Hội thẩm nhân dân: 1/. Ông Thạch Thanh Long. 2/. Bà Nguyễn Thị Diệu Trang. Thư ký phiên tòa: ông Huỳnh Sa Rên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long không tham gia phiên tòa. Trong ngày 05 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 327/2018/TLST- DS ngày 03 tháng 12 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2019/QĐXXST-DS, ngày 28/01/2019 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Bưu Điện L. Địa chỉ trụ sở chính: Tòa nhà C, đường T, phường C, Quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S, chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Châu Viễn T – Chuyên viên giám sát hoạt động tại Ngân hàng TMCP Bưu điện L Chi nhánh T theo Quyết định ủy quyền số: 256/2018/QĐ-LienVietPostBank.CNTV, ngày 09/10/2018. Địa chỉ số: Đường H, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt). Bị đơn: anh Phạm Trung L, sinh năm 1979 (vắng mặt không có lý do). Địa chỉ: Thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tại bản khai và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Bưu điện L Chi nhánh T trình bày: Ngân hàng TMCP Bưu điện L Chi nhánh T đã ký hợp đồng tín dụng số 1292-16/HĐTD-LPB.TV ký ngày 05/10/2016 cho anh Phạm Trung L vay 80.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng. Thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày bên vay nhận tiền vay, phương thức cho vay cho vay từng lần, Lãi suất tiền vay theo quy định của Ngân hàng tại thời điểm giải ngân, lãi suất nợ qúa hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, trả nợ gốc trả trong 60 kỳ, từ kỳ 01 đến kỳ 59 trả số tiền 1.340.000 đồng vào ngày 10 hàng tháng, kỳ cuối cùng trả số tiền 940.000 đồng vào ngày đáo hạn, trả nợ lãi vào ngày 10 hàng tháng theo dư nợ thực tế, số tiền đã trả đến ngày 05/3/2019 vốn gốc 30.862.853 đồng, lãi trong hạn 14.975.967 đồng.
Do anh L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã nhiều lần đề nghị bằng văn bản yêu cầu bên vay vốn thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký. Tuy nhiên bên vay vốn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã vay cho Ngân hàng. Nay đại diện Ngân hàng yêu cầu anh Phạm Trung L phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Bưu điện L tổng số tiền tính đến ngày 05/3/2019 là 51.589.450 đồng (trong đó vốn gốc 49.137.147 đồng, nợ lãi trong hạn 2.122.249 đồng, nợ lãi quá hạn 330.054 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 1292-16/HĐTD-LPB.TV ký ngày 05/10/2016 cho đến khi thanh toán xong hết nợ cho Ngân hàng. Bị đơn anh Phạm Trung L vắng mặt nên không có lời trình bày. Vụ kiện đã được Tòa án tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng anh Phạm Trung L vắng mặt do đó không tiến hành phiên hòa giải được và quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa hôm nay anh Phạm Trung L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa hôm nay anh Phạm Trung L là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử. Về xác định quan hệ tranh chấp: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì đây là vụ án “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về nội dụng vụ án: Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP Bưu điện L: Vào ngày 05/10/2016 cho anh Phạm Trung L vay số tiền 80.000.000 đồng, lãi suất vay theo quy định của Ngân hàng tại thời điểm giải ngân, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 60 tháng, trả nợ gốc trả trong 60 kỳ, từ kỳ 01 đến kỳ 59 trả số tiền 1.340.000 đồng vào ngày 10 hàng tháng, kỳ cuối cùng trả số tiền 940.000 đồng vào ngày đáo hạn. Trong qúa trình vay anh L đã trả được 30.862.853 đồng vốn gốc, lãi trong hạn 14.975.967 đồng, còn thiếu lại số tiền tính đến ngày 05/3/2019 là 51.589.450 đồng (trong đó vốn gốc 49.137.147 đồng, nợ lãi trong hạn 2.122.249 đồng, nợ lãi quá hạn 330.045 đồng). Như vậy, việc anh L vay tiền và trả tiền vay hàng tháng cho Ngân hàng TMCP Bưu điện L là có thật. Căn cứ Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thu thập cung cấp giao nộp cho Tòa án tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Ngân hàng TMCP Bưu điện L đã cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là anh Phạm Trung L có vay tiền Ngân hàng thể hiện theo hợp đồng tín dụng số 1292- 16/HĐTD-LPB.TV ký ngày 05/10/2016 với số tiền 80.000.000 đồng, giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 1292-16/KU-LPB.TV, ngày 05/10/2016, giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ và đã trả hàng tháng theo thuận trong hợp đồng tín dụng
được s ố tiền vốn gốc 30.862.853 đồng, tiền lãi 14.975.967 đồng. Xét thấy đây là hợp đồng vay tiền có kỳ hạn và có lãi suất, khi đến hạn trả nợ, anh L không trả hết số tiền gốc và số tiền lãi cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả tiền của bên vay. Từ những cơ sở nêu trên, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Bưu điện L, buộc anh Phạm Trung L phải trả cho Ngân hàng TMCP Bưu điện L số tiền tính đến ngày 05/3/2019 là 51.589.450 đồng (trong đó vốn gốc 49.137.147 đồng, nợ lãi trong hạn 2.122.249 đồng, nợ lãi quá hạn 330.054 đồng). [3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phạm Trung L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, Ngân hàng không phải chịu án phí và sẽ được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 91, khoản 3 Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự. Tuyên xử: 1. Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Bưu điện L. Buộc anh Phạm Trung L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Bưu điện L tổng số tiền tính đến ngày 05/3/2019 là 51.589.450 đồng (trong đó vốn gốc 49.137.147 đồng, nợ lãi trong hạn 2.122.249 đồng, nợ lãi quá hạn 330.045 đồng). “Kể từ ngày 06/3/2019 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phạm Trung L phải nộp 2.579.000 đồng. Ngân hàng TMCP Bưu điện L không phải nộp án phí. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Bưu điện L 1.241.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2015/ 0018589 ngày 28/11/2018 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C thu. 2. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: -TAND tỉnh. (Đã ký tên và đóng dấu) -VKSND huyện, tỉnh. -CCTHADS huyện. -Các đương sự. -Lưu. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Trúc Linh |