vanban.org

Bản án 01/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Cửa Lò, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Đào Giang N bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: bị cáo Đào Giang N 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 27/11/2017). Về hình phạt bổ sung: không.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Giang N- Tàng trữ trái phép CMT - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Đào Giang N bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự buộc; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Bộ luật tố tụng hình sự qui định
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
THỊ XÃ CỬA LÒ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2018/HSST
Ngày 29/01/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ- TỈNH NGHỆ AN

VỚI HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM GỒM CÓ:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: bà Đặng Thị Lệ Hằng . Các Hội thẩm nhân dân: 1. bà Phùng Thị Hạnh- Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ thị xã Cửa Lò. 2. ông Nguyễn Đức Tình- Phó Chủ tịch Mặt trận tổ quốc thị xã Cửa Lò.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Hiền- cán bộ Toà án nhân dân Thị xã Cửa Lò.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Châu- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò.

Ngày 29 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An mở phiên toà để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2017/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2017 đối với: Bị cáo: Đào Giang N, sinh ngày 30/4/1975 Nơi cư trú: thôn Cống Thôn, xã Yên Viên, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Trình độ văn hoá: 07/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt N. Con ông: Đào Văn Nh (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1977 và 01 con sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2017 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14h ngày 25/8/2017, tại đường Đặng Thái Thuyến thuộc khối 4, phường Nghi Hương, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an phường Nghi Hương, thị xã Cửa Lò phát hiện và bắt quả tang Đào Giang N đang có hành vi tàng trữ 01 gói giấy nhỏ màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng có trọng lượng 0,105g.

Tại bản kết luận giám định số 930/KL- PC54 (MT) ngày 29/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: chất bột màu trắng thu giữ từ bị cáo Đào Giang N gửi tới giám định là ma túy (hêrôin).

Tại bản cáo trạng số 03/VKS- HS ngày 26 tháng 12 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò đã truy tố bị cáo Đào Giang N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, qua xét hỏi, bị cáo Đào Giang N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng số 03/VKS- HS của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò đã truy tố là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 và điểm c khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015 (điều khoản có lợi cho người phạm tội) để xử phạt bị cáo Đào Giang N mức án từ 12 đến 15 tháng tù. Về vật chứng: đề nghị áp dụng điểm b, c khoản 2 điều 106 BLTTHS 2015 tịch thu tiêu hủy 01 gói nhỏ bằng giấy màu vàng chứa 0,075g heroin còn lại và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long; tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại Nokia 150 màu đen đã qua sử dụng đã thu giữ của Đào Giang N.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Cửa Lò, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự qui định. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà, bị cáo Đào Giang N đã khai nhận vào ngày 25/8/2017, do có nhu cầu mua ma túy để sử dụng nên N đã nhờ một người đàn ông không quen biết mua một gói nhỏ ma túy với giá tiền 100.000đ. Sau khi lấy được gói ma túy chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện và bắt giữ. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tang vật thu giữ được trong vụ án và kết luận giám định có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để HĐXX kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do số lượng ma túy chỉ có 0,105gr nên Viện kiểm sỏt nhõn dõn thị xã Cửa Lò truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 194 BLHS với hành vi tàng trữ là thỏa đáng và đúng mức.

Xét tính chất vụ án: vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng và hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy, bản thân đã bị phơi nhiễm HIV nhưng trong lúc đi du lịch tại Cửa Lò vẫn cố tìm cách liên hệ với đối tượng xấu trên địa bàn để mua ma túy. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, bởi vì ma túy là chất độc dược hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân làm phát sinh một số loại tội phạm khác và gây mất ổn định xã hội.

Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ: Tại thời điểm phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có một tình tiết giảm nhẹ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải. Tuy bị cáo bị truy tố theo khoản 1 điều 194 BLHS năm 1999 nhưng tại thời điểm xét xử, bộ luật hình sự năm 2015 đã có hiệu lực pháp luật. Theo hướng dẫn tại điểm b khoản 1 điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 thì dù hành vi phạm tội của bị cáo N xảy ra trước ngày 01/01/2018 nhưng so với khoản 1 điều 194 BLHS 1999, mức hình phạt tương ứng được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015 có lợi cho bị cáo N. Do đó, cần phải xét xử bị cáo N theo quy định điểm c khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015 là có căn cứ.

Căn cứ vào tính chất vụ án và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian và tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam bị cáo để bảo đảm cho công tác thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh có trong hồ sơ thì bị cáo N không có tài sản riêng gì đáng kể và có thu nhập khoảng 2- 3 triệu đồng một tháng. Nhưng kể từ khi bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay bị cáo không có thu nhập gì khác, sau này phải chấp hành hình phạt tù nên HĐXX quyết định miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra truy tố cơ quan điều tra đã thu giữ một số ma túy có trọng lượng 0,105 gr, sau khi lấy một số gửi đi giám định còn lại 0,075gr và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long được niêm phong trong bì thư có chữ ký của bị cáo Đào Giang N cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 150 màu đen đã qua sử dụng bên trong có sim số 01669590203 thu giữ của bị cáo N- quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định là phương tiện để N liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Trong vụ án còn có đối tượng là người mà N khai đã mua hộ số ma túy cho N nhưng Cơ quan điều tra không có tài liệu chứng cứ để chứng minh và làm rõ tung tích nên không có cơ sở để xử lý.

Bị cáo Đào Giang N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố Đào Giang N bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14; khoản 3 điều 7 và điểm c khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015,

Xử phạt: bị cáo Đào Giang N 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 27/11/2017).

Về hình phạt bổ sung: không.

Vật chứng: áp dụng điểm a khoản 2 điều 76 BLTTHS tịch thu tiêu hủy 0.075gr ma túy còn lại và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long thu giữ từ Đào Giang N; tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 150 màu đen đã qua sử dụng bên trong có sim số 01669590203 thu giữ từ bị cáo N (Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/12/2017).

Án phí: áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự buộc bị cáo Đào Giang N phải chịu 200. 000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ