vanban.org

Bản án 01/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 30/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nông Xuân Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: bị cáo Nông Xuân Th 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2017.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 của Bộ luật hình sự 1999; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì thư ghi "Tang vật của Triệu Văn T1 - bắt quả tang ngày 05/12/2017", mặt sau có chữ ký của đối tượng và … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Xuân Th - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nông Xuân Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: bị cáo Nông Xuân Th 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2017.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH AN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2018/HSST
Ngày 30/01/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nông Thanh Điệp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hường

2. Bà Nông Thị Ngọc Ánh

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Phan Vũ Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: ông Nông Quốc Toản - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2018 Tòa án nhân dân huyện Thạch An xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2018/HSST ngày 09/01/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2018/HSST-QĐTA ngày 18/01/2018 đối với bị cáo:

Nông Xuân Th, sinh năm 1958.

ĐKNKTT: Khuổi N xã K huyện T tỉnh Cao Bằng;

Chỗ ở hiện nay: Khuổi N xã K huyện T tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Nông Văn S (đã chết năm 1980); Con bà: Hà Thị K (đã chết năm 1988); Vợ: Âu Thị T sinh năm 1958; Con: 05 con, lớn sinh năm 1979, nhỏ sinh năm 1987; Bị cáo là con thứ tư trong gia đình có 04 anh chị, em. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam.

Bị tạm giam từ ngày 05/12/2017, có mặt tại phiên toà.

- Người làm chứng:

1. ông Triệu Văn T1

Trú tại: Nà C xã Đ huyện T tỉnh Cao Bằng.

Vắng mặt tại phiên tòa

2. ông Nông Văn T2

Trú tại: Kéo Q xã Đ huyện T tỉnh Cao Bằng.

Vắng mặt tại phiên tòa

3. ông Lương Văn T3

Trú tại: Nà P xã Đ huyện T tỉnh Cao Bằng.

Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 35 ngày 05/12/2017 tổ công tác Công an huyện Thạch An phát hiện và bắt quả tang Nông Xuân Th đang có hành vi bán ma túy cho Triệu Văn T1 (trú tại thôn Nà C xã Đ huyện T An tỉnh Cao Bằng). Tang vật thu giữ gồm:

- Thu giữ trên tay Triệu Văn T1 là 02 gói nhỏ bằng giấy bạc, bên trong có chất bột màu trắng ngà, T1 khai nhận là Heroine vừa mua với Nông Xuân Th giá 200.000đ.

- Thu giữ 200.000đ tại túi áo bên trái của Nông Xuân Th, Th khai đây là số tiền vừa bán ma túy cho T1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu ghi, đã qua sử dụng trong túi quần bên phải Th đang mặc.

Khám xét khẩn cấp nhà của Nông Xuân Th, phát hiện bên trong chiếc ủng phải để ở cuối gường có 01 lọ nhựa màu đen có nắp màu vàng bên trong có 09 gói nhỏ chứa chất bột màu trắng ngà (nghi là Heroine).

Tổ công tác của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch An đã tiến hành thu giữ và niêm phong tang vật theo đúng quy định của pháp luật.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Nông Xuân Th khai nhận do bị mắc bệnh u phổi, đã di căn hạch trung thất nên đã đi điều trị tại Bệnh viện K Hà Nội từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2017, nhưng do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên đã xin xuất viện về nhà. Do cơn đau hành hạ nên khoảng tháng 8 năm 2017 bị cáo đã sử dụng ma túy để giảm đau. Để có ma túy sử dụng, bị cáo đã nhiều lần về bến xe thành phố Cao Bằng gặp người đàn ông không biết tên và địa chỉ, có dáng cao gầy, khoảng 40 tuổi để mua ma túy từ 100.000đ đến 1.000.000đ về để sử dụng.

Để có tiền mua ma túy sử dụng, bị cáo đã chia lẻ ra bán cho các đối tượng Triệu Văn T1 (trú tại: Nà C xã Đ huyện T), Nông Văn T2 (trú tại: Kéo Q xã Đ huyện T) và Lương Văn T3 (trú tại: Nà P xã Đ huyện T) nhằm thu hồi vốn xoay vòng mua ma túy. Cụ thể bị cáo đã bán ma túy cho Triệu Văn T1 03 lần: lần thứ nhất vào khoảng đầu tháng 12/2017 01 tép heroine giá 100.000đ, lần thứ 2 cách ngày bị bắt khoảng 10 ngày, Th được bán cho T1 01 tép heroine giá 100.000đ, lần thứ 3 vào ngày 05/12/2017 Th bán cho T1 02 tép heroine giá 200.000đ thì bị Công an huyện Thạch An bắt quả tang. Bán ma túy cho Nông Văn T2 và Lương Văn T3 (không nhớ thời gian) mỗi người 01 tép heroine giá 100.000đ. Bị cáo thường dùng điện thoại NOKIA gắn số thuê bao 01234309071 để liên lạc mua bán ma túy.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thạch An đã tiến hành đối chất giữa bị cáo Nông Xuân Th với Triệu Văn T1, cả hai đã thừa nhận được mua bán ma túy với nhau 03 lần. Đối chất giữa bị cáo Nông Xuân Th với Nông Văn T2, cả hai thừa nhận được mua bán ma túy 01 lần.

Ngày 05/12/2017 trước sự chứng kiến của Nông Xuân Th, Công an và Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An đã phối hợp mở niêm phong tang vật để cân trọng lượng và niêm phong mẫu gửi giám định đối với số chất bột màu trắng ngà (nghi là ma túy) thu giữ của Nông Xuân Th. Kết quả cân số chất bột màu trắng ngà (nghi là ma túy) có trọng lượng (khối lượng) thu giữ của Nông Xuân Th là 0,33 gam (không phẩy ba mươi ba gam).

Ngày 11/12/2017 trước sự chứng kiến của Triệu Văn T1, Công an và Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An đã phối hợp mở niêm phong tang vật để cân trọng lượng đối với số chất bột màu trắng ngà (nghi là ma túy) thu giữ của Triệu Văn T1. Kết quả cân số chất bột màu trắng ngà (nghi là ma túy) có trọng lượng (khối lượng) thu giữ của Triệu Văn T1 là 0,06 gam (không phẩy không sáu gam).

Ngày 06/12/2017 Công an huyện Thạch An đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với số chất bột màu trắng ngà (nghi là ma túy) đã thu giữ của Nông Xuân Th.

Tại Kết luận giám định số 08/GĐMT ngày 22/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: "Mẫu gửi giám định chất ma túy vụ Nông Xuân Th, bắt quả tang ngày 05/12/2017 tại Khuổi N xã K huyện T tỉnh Cao Bằng" là ma túy, loại: Heroine. Trọng lượng mẫu gửi giám định là 0,3169g (không phẩy ba một sáu chín gam).

Ngày 14/12/2017 Ủy ban kiểm tra huyện ủy Thạch An đã ban hành Quyết định số 26-QĐ-UBKT đình chỉ sinh hoạt đảng đối Nông Xuân Th - đảng viên Chi bộ Khuổi N, thuộc Đảng bộ xã K huyện T tỉnh Cao Bằng.

Đối với Triệu Văn T1 là đối tượng đã mua ma túy với Nông Xuân Th về để sử dụng, nhưng do trọng lượng ma túy chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Thạch An đã ra quyết định cảnh cáo là đúng quy định của pháp luật. Các đối tượng T2, T3 cũng đã bị Công an huyện Thạch An đã ra quyết định cảnh cáo.

Qua công tác điều tra, do không xác định được đối tượng ở bến xe Thành phố Cao Bằng đã bán ma túy cho bị cáo Nông Xuân Th, nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với đối tượng đó.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nông Xuân Thoòng về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 01/CTr-VKS ngày 08/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Xử phạt bị cáo Nông Xuân Th từ 07 năm đến 08 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

- Đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 11 giờ 35 ngày 05/12/2017 Công an huyện Thạch An phát hiện và bắt quả tang Nông Xuân Th đang có hành vi bán ma túy cho Triệu Văn T1. Tang vật thu giữ: trên tay Triệu Văn T1 là 02 gói nhỏ bằng giấy bạc, T1 khai nhận là Heroine vừa mua với Nông Xuân Th giá 200.000đ. Trong người Nông Xuân Th có 200.000đ tại túi áo bên trái, Th khai đây là số tiền vừa bán ma túy cho T1. Tại túi quần bên phải Th đang mặc có 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu ghi, đã qua sử dụng. Khám xét khẩn cấp nhà của Nông Xuân Th, thu giữ 01 lọ nhựa màu đen có nắp màu vàng bên trong có 09 gói nhỏ chứa chất bột màu trắng ngà (nghi là Heroine) để trong chiếc ủng phải ở cuối gường. Kết quả cân trọng lượng (khối lượng) chất ma túy thu giữ của bị cáo Nông Xuân Th là 0,33 gam (không phẩy ba mươi ba gam). Theo kết quả giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại: Heroine. Ngoài lần được bán ma túy cho Triệu Văn T1 ngày 05/12/2017, trước đó khoảng 10 ngày, bị cáo Th còn được bán ma túy cho T1 02 lần mỗi lần 01 tép ma túy giá 100.000đ. Bán ma túy cho T2 và T3 mỗi người 01 tép ma túy giá 100.000đ. Khi cơ quan điều tra tiến hành đối chất giữa bị cáo Th với T1, cả hai đã thừa nhận được mua bán ma túy với nhau tổng cộng 03 lần. Đối chất giữa bị cáo Th với T2, cả hai đã thừa nhận được mua bán ma túy với nhau 01 lần. Do đối tượng T3 không có mặt tại địa phương nên không tiến hành đối chất được.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, hành vi của bị cáo Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy’’ được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự 1999. Cáo trạng số 01/CTr-VKS ngày 08/01/2018 của VKSND huyện Thạch An tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy’’ là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Th là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy, có sự hiểu biết xã hội, có quá trình tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc năm 1979 (thuộc đối tượng được hưởng trợ cấp một lần theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ), là đảng viên được tặng huy hiệu 30 năm tuổi đảng, là Bí thư, trưởng thôn, nhưng do bị bệnh hiểm nghèo, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không tuân thủ điều trị theo sự chỉ định của Bệnh viện mà tự ý sử dụng ma túy để giảm đau chữa bệnh, để có tiền mua ma túy sử dụng cho cá nhân, bị cáo đã chia lẻ để bán cho các đối tượng nghiện nhằm thu hồi vốn xoay vòng mua ma túy cho bản thân, điều đó góp phần làm gia tăng các đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trong khu vực, bị quần chúng nhân dân lên án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc quản lý của nhà nước về chất ma túy, vì vậy cần phải có một mức án nghiêm khắc để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, xét về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội do mình gây ra, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự 1999. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có. Do bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên xét thấy không nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vậy khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ xem xét.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội và đề nghị áp dụng các điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì thêm.

Phần nói lời sau cùng: bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa lỗi lầm, sớm trở về với gia đình.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì thư ghi "Tang vật của Triệu Văn T1 - bắt quả tang ngày 05/12/2017", mặt sau có chữ ký của đối tượng và những người tham gia niêm phong lên phần giáp lai phong bì thư, có đóng 04 dấu của Công an huyện Thạch An tỉnh Cao Bằng tại 04 (bốn) góc phong bì thư; 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì thư ghi "hoàn lại mẫu sau giám định vụ Nông Xuân Th, có hành vi mua bán trái phép chất ma túy", mặt sau có chữ ký của những người tham gia và có đóng 04 (bốn) con dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cao Bằng tại 04 (bốn) góc phong bì thư, đây là chất cấm lưu hành, cần tịch thu để tiêu hủy.

+ Đối với 01 (một) lọ nhựa màu đen, có nắp màu vàng, bên trong có chứa các mảnh giấy bạc, do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.

+ Đối với 01 (một) phong bì thư dán kín, mặt trước ghi "Tiền Việt Nam: Hai trăm nghìn đồng tạm giữ của Nông Xuân Th", mặt sau dán kín. Đây là số tiền do bị cáo bán ma túy cho Triệu Văn T1 mà có, vì vậy cần tịch thu để sung công quỹ nhà nước.

+ Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu ghi, đã qua sử dụng. Trong chiếc điện thoại trên có lắp 02 thẻ sim số thuê bao 01234309071 và số thuê bao 0973298215. Điện thoại có số IMEI1 351677/05/199212/1; số IMEI1 351677/05/199213/9. Đây làm công cụ mà bị cáo sử dụng liên lạc để mua bán ma túy, nên cần tịch thu để phát mại sung công quỹ nhà nước.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 194 và điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự 1999

- Tuyên bố: bị cáo Nông Xuân Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: bị cáo Nông Xuân Th 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 của Bộ luật hình sự 1999; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì thư ghi "Tang vật của Triệu Văn T1 - bắt quả tang ngày 05/12/2017", mặt sau có chữ ký của đối tượng và những người tham gia niêm phong lên phần giáp lai phong bì thư, có đóng 04 dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thạch An tỉnh Cao Bằng tại 04 (bốn) góc phong bì thư; 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì thư ghi "hoàn lại mẫu sau giám định vụ Nông Xuân Th, có hành vi mua bán trái phép chất ma túy", mặt sau có chữ ký của những người tham gia và có đóng 04 (bốn) con dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cao Bằng tại 04 (bốn) góc phong bì thư; 01 (một) lọ nhựa màu đen, có nắp màu vàng, bên trong có chứa các mảnh giấy bạc.

- Tịch thu để sung ngân sách nhà nước 01 (một) phong bì thư dán kín, mặt trước ghi "Tiền Việt Nam: Hai trăm nghìn đồng tạm giữ của Nông Xuân Th", mặt sau dán kín.

- Tịch thu để phát mại sung ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu ghi, đã qua sử dụng. Trong chiếc điện thoại trên có lắp 02 thẻ sim số thuê bao 01234309071 và số thuê bao 0973298215. Điện thoại có số IMEI1 351677/05/199212/1; số IMEI1 351677/05/199213/9.

Xác nhận số vật chứng hiện đang được tạm giữ tại kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch An theo biên bản bàn giao vật chứng lập ngày 10/01/2018 giữa Công an huyện Thạch An và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thạch An.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nông Xuân Th phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

"Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ