- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Hữu D phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (đ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đặng Hữu D, sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 250 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 33 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2018/HSPT Ngày: 17/01/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Hữu Minh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.
Bà: Nghiêm Thị Lượng.
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Khuyến – Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 164/2017/HSPT ngày 03 tháng 11 năm 2017, do có kháng cáo của bị cáo Đặng Hữu D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 205/2017/HSST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Bắc Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Đặng Hữu D, sinh năm 1990;
HKTT: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Sửa chữa xe máy; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Dao; con ông Đặng Văn T, sinh năm 1969, con bà Lý Thị N, sinh năm 1967; vợ: Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1987; có 01 con, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2017 đến ngày 07/6/2017, hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án này còn có các bị cáo Đặng Mạnh H, Phan Đức C, những người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Q và Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Q thì nội dung vụ án như sau:
Đặng Hữu D có hành vi tiêu thụ xe mô tô do Đặng Mạnh H và Phan Đức C trộm cắp như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 26/3/2017, Đặng Mạnh H điện thoại cho Đặng Hữu D nói: “Có hai xe Wave alpha màu trắng” và hỏi Dcó mua không, D trả lời: “Cứ mang xe lên để xem”
Khoảng 14 giờ cùng ngày, H và C mang 02 xe mô tô Honda Wave alpha màu trắng có biển kiểm soát là 36D1 – 405.50 (H và C trộm cắp của anh Lê Trọng P ở thôn G, xã P) và 98E1-418.83 (H và C trộm cắp của anh Ngọc Văn T tại thôn G, xã P) đến cửa hàng sửa chữa xe máy của D. Khi gặp H, D kiểm tra xe thấy xe không có giấy tờ, ổ khóa của cả hai xe đều bị cậy phá, D biết đó là xe do H và C trộm cắp mà có nhưng ham rẻ nên D vẫn mua. D và H thỏa thuận mỗi xe giá 4.500.000đ, D đưa cho H 9.000.000đ mua 02 xe mô tô trên.
Sau khi mua được hai xe mô tô, D tháo rời phụ tùng của một xe rồi bán số phụ tùng trên cho Đặng Văn Q được 6.000.000đ. Xe mô tô còn lại D đem bán cho một người đàn ông tên T khoảng 35 tuổi ở xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Nguyên được 5.500.000đ.
Tại kết luận định giá tài sản số 39/KL ngày 03/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: Chiếc xe mô tô Honda Wave alpha màu trắng BKS 98E1-418.83 có trị giá 14.713.050 đồng
Tại kết luận định giá tài sản số 40/KL ngày 03/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: Chiếc xe mô tô Honda loại xe Wave alpha màu trắng BKS 36D1 – 405.50 có trị giá 16.087.500 đồng
Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 31/3/2017, Đặng Mạnh H điện thoại cho Đặng Hữu D và nói “có hai xe Sirius, có mua không”, D trả lời “Mang xe lên để xem”. Khoảng 15 giờ cùng ngày, H và C mang 02 xe mô tô Yamaha Sirius lên quán sửa chữa xe máy của D. Trong đó có một xe Sirius màu đỏ - đen BKS 22F1-165.34 (H và C trộm của anh Nguyễn Hồng T ở thôn M, xã P2) và một xe Sirius màu trắng (H và C khai không nhớ BKS và không nhớ đã trộm cắp chiếc xe đó ở đâu). Sau khi kiểm tra xe, D biết hai xe mô tô trên là do H và C trộm cắp nhưng vẫn nhận mua, D mua xe Yamaha Sirius màu đỏ đen BKS 22F1-165.34 giá 4.500.000đ còn chiếc xe Yamaha Sirius màu trắng giá 3.800.000đ. D đưa cho H 8.300.000đ.
Sau khi mua được hai xe mô tô, D tháo rời các phụ tùng của cả hai xe rồi bán số phụ tùng trên cho Đặng Văn Q được 11.000.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá số 38/KL ngày 19/4/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: Chiếc xe mô tô Yamaha Sirius màu đỏ đen BKS 22F1-165.34 có trị giá 15.616.050 đồng.
Đối với chiếc xe Yamaha Sirius màu trắng, quá trình điều tra chưa xác định được bị hại cũng như xác định được nguồn gốc xe. Cơ quan CSĐT Công an huyện Q tách ra tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Ngoài ra H, C, D còn khai vào khoảng 14 giờ một ngày giữa tháng 3 năm 2017, sau khi trộm cắp được 01 xe mô tô Honda wave màu xanh ngọc (H và C không nhớ rõ biển kiểm soát và đã trộm cắp ở đâu). H bảo C đi xe lên cửa hàng sửa xe của D bán cho D được 4.500.000 đồng, số tiền trên H và C đã chia nhau ăn tiêu hết. Khoảng hai ngày sau, D tháo rời các bộ phận của xe rồi bán cho Đặng Văn Q, sinh năm 1986 ở xóm V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên được 6.000.000 đồng.
Quá trình điều tra chưa xác định được người bị hại, nguồn gốc xe nên chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q tách ra, tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Sau khi bị phát hiện, ngày 16/4/2017, Đặng Hữu D ra đầu thú tại trụ sở Công an huyện Q, Bắc Ninh. D đã giao nộp cho cơ quan CSĐT các vật chứng và số tiền 5.500.000đ là tiền hưởng lợi từ việc mua bán xe.
Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự: Xử phạt: Đặng Hữu D 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2017 đến ngày 07/6/2017.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử đối với các bị cáo Đặng Mạnh H và Phan Đức C, tuyên trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Án sơ thẩm xử xong, ngày 02/10/2017, bị cáo Đặng Hữu D kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử. Bị cáo xin được hưởng án treo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu ý kiến: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá hành vi phạm tội cùng nhân thân của bị cáo, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định là hợp lệ được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với toàn bộ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Dù biết là tài sản trộm cắp và không có hứa hẹn trước, Đặng Hữu D đã 02 lần mua xe của Đặng Mạnh H và Phan Đức C. Lần thứ nhất, mua hai xe mô tô Wave Alpha BKS 36D1 – 405.50 và BKS 98E1-418.83 tổng trị giá 30.800.550 đồng; lần thứ hai, mua 01 xe mô tô Yamaha Sirius BKS 22F1-165.34 trị giá 15.616.050 đồng. Tổng trị giá tài sản là 46.416.600 đồng. Do vậy Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, tiếp tay cho người khác có nơi tiêu thụ tài sản bất hợp pháp, tạo điều kiện cho tội phạm xâm phạm về sở hữu phát triển. Trong vụ án, mặc dù biết những xe mô tô H và C mang đến là tài sản do phạm tội mà có, nhưng vì hám lợi, D đã nhiều lần tiêu thụ tài sản cho H và C.
Xét kháng cáo của bị cáo, HĐXX nhận thấy: Bản án sơ thẩm khi xét xử, quyết định hình phạt đối với bị cáo đã đánh giá tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội đã ra đầu thú tại cơ quan Công an; đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lời bất chính; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm hôm nay đã thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải. Án sơ thẩm phạt bị cáo 15 tháng tù là có phần nghiêm, do vậy cần chấp nhận một phần đơn kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng đủ thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không xem xét.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự
QUYẾT ĐỊNH
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đặng Hữu D, sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm p khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự xử phạt:
Đặng Hữu D: 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2017 đến ngày 07/6/2017.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - Phòng PV27 - CA tỉnh Bắc Ninh; - PC 81 - CA tỉnh Bắc Ninh; - TAND huyện Q; - Bị cáo; - Lưu . | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |