- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn C (2 bị cáo)-Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị hại Đặng Hoài L, sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU Bản án số: 01/2018/HSPT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày 12 - 01 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiến
Các Thẩm phán:
Ông Tạ Quốc Việt
Ông Đào Đức Thiện
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Lá, Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Ngô Xuân Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 143/2017/HSPT ngày 06/12/2017 đối với bị cáo Nguyễn Tuấn C và Trần Hoàng P do có kháng cáo của Bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 80/2017/HSST ngày 24/10/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Các bị cáo bị kháng cáo:
1/ NGUYỄN TUẤN C, sinh ngày 29/11/1996 tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Khắc T và bà Hà Thị Kim P;
Nhân thân: Ngày 08/4/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2017 (có mặt).
2/ TRẦN HOÀNG P, sinh năm 1994 tại Bà Rịa-Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 2, ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; trình độ học vấn: 6/12; con ông Trần Đức H và bà Nguyễn Thị S;
Tiền án: Bản án số 77/2013/HSST ngày 27/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa xử phạt 07 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.
Bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2017 (có mặt).
Người bị hại kháng cáo: Anh Đặng Hoài L, sinh năm 1991; trú tại: Tổ 9, ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B và Bản án hình sự sơ thẩm số 80/2017/HSST ngày 24/10/2017 của Tòa án nhân dân thành phố B, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 18/01/2017, Nguyễn Tuấn C và Trần Hoàng P ngồi chơi cùng Trần Thị Thu O, Phạm Công T, Diệp Ngọc A, Hồ Minh N ở gần vòng xoay thuộc Ấp B, xã Hòa L, thành phố B. Lúc này, em họ của O là Trần Minh T1 đi chơi về thấy O còn ngồi chơi nên bảo chị về nhà ngủ. Giữa T1 và C đã có lời qua tiếng lại. T1 bực tức, đi vào trong nhà của Trương Thái H tại tổ 14, ấp B, xã H, thành phố B kể cho H nghe. Khi đó trong nhà còn có anh Đặng Hoài L, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Chí T3. H điều khiển xe mô tô Sirius, màu đỏ, không rõ biển số chở T1, T2 đi ra chỗ C và P đang đứng. Ra đến nơi, H xuống xe dùng nón bảo hiểm đánh C thì bị nhóm của C đánh lại nên T1 vào nhà gọi L. Khi ra ngoài đường, L thấy C điều khiển xe hiệu Sirius, màu trắng biển kiểm soát 72D1… chở P bỏ chạy về hướng xã T nên L điều khiển xe mô tô hai bánh hiệu Sirius, màu đỏ đen, không rõ biển số của nhóm H cùng một số người bạn đuổi theo C và P. Sau đó cả nhóm của L đi vào nhà H, còn L đứng ở ngoài đầu đường để chờ C, P quay lại.
Bị đuổi đánh, C rủ P quay lại đánh trả thù. P đồng ý, đi đến chỗ xe máy cày đậu bên đường lục tìm được 01 cây rựa, cán bằng gỗ, dài khoảng 70 cm còn C tìm được 01 cây tre dài khoảng 80cm. Khoảng 01 giờ ngày 19/01/2017, C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 72D1… chở P ngồi phía sau, quay lại vòng xoay H. Lúc này L đang đứng ở đầu đường, thấy C và P quay lại thì cầm 01 cây gỗ đi đến đánh. Khi L giơ tay đánh thì P cầm rựa bên tay trái, rựa hướng xuống đất, P vung rựa theo hướng từ dưới lên trên chém trúng vào sau vai trái và sau bắp tay trái của L. Sau đó, P xuống xe, L bỏ chạy vào vỉa hè thì bị P rượt theo, khi đến gần P cầm rựa sang tay phải giơ cao chém theo hướng từ trên xuống dưới. L giơ tay lên đỡ, thì bị chém đứt hai đốt ngoài cùng ngón trỏ và ngón giữa của bàn tay phải. Sau khi bị chém, L được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện B còn P và C quay về xã T, khi đi ngang chiếc xe máy cày thì vứt cây rựa vào thùng xe.
Ngày 25/01/2017, Nguyễn Tuấn C và Trần Hoàng P đến cơ quan công an đầu thú.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 44/TgT ngày 21/01/2017 của Trung tâm pháp y- Sở Y tế tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu kết luận về thương tích của anh Đặng Hoài L:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- 01 vết thương phần mềm cánh tay trái, lành thương tốt.
- 01 vết thương phần mềm phía bên trái lưng, lành thương tốt.
- Vết thương đứt lìa ngang đốt gần các ngón 2-3 bàn tay phải. Hiện đoạn chi ngang đốt gần hai ngón trên, mỏm cụt lành thương tốt.
2. Về vật gây thương tích và chiều hướng tác động:
- Thương tích 01: Phù hợp với tổn thương cơ thể là “vết chém, băm, bổ” được gây ra do sự tác động của vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí vết thương theo chiều hướng từ sau ra trước.
-Thương tích 02: Phù hợp với tổn thương cơ thể là “vết chém, băm, bổ” được gây ra do sự tác động của vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí vết thương theo chiều hướng từ sau ra trước.
- Thương tích 03: Phù hợp với tổn thương cơ thể là “vết chém, băm, bổ” được gây ra do sự tác động của vật cứng có cạnh sắc, tác động vào vị trí đốt gần của hai ngón trên, lực tác động rất mạnh. Về chiều hướng của thương tích không đủ cơ sở để nhận định.
3. Căn cứ Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/06/2014 của Bộ Y Tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là 17% (mười bảy phần trăm)”.
Quá trình điều tra xác định: Hành vi dùng nón bảo hiểm đánh C và P của Trương Thái H không cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật hình sự nên Công an thành phố B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H bằng hình thức phạt tiền.
Đối với hung khí, phương tiện dùng để gây án gồm 01 cây rựa, sau khi gây án xong, P vứt vào thùng xe máy cày; 01 cây tre dài khoảng 80cm C làm rớt tại hiện trường khi bị L đánh. Hiện cơ quan điều tra không thu giữ được.
Đối với chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng- xám, biển kiểm soát 72D1..., quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Khắc T cha ruột của Nguyễn Tuấn C. Ông T cho C mượn xe để đi chơi cùng bạn gái nhưng sau đó C gây thương tích cho L. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố B trả lại xe cho ông Nguyễn Khắc T.
Taị bản án hình sự sơ thẩm số 80/2017/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Bà Rịa đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tuấn C, Trần Hoàng P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, các điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2017.
Áp dụng khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, các điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo Trần Hoàng P 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2017.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự, Điều 586, 587, 590 của Bộ luật dân sự, ghi nhận thỏa thuận của Nguyễn Tuấn C, Trần Hoàng P mỗi người bồi thường cho anh Đặng Hoài L 22.500.000đ (hai mươi hai triệu năm trăm ngàn) đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 03/11/2017 người bị hại Đặng Hoài L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố B; yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét tăng mức hình phạt đối với các bị cáo với lý do: Các bị cáo đã từng có tiền án; cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 46 BLHS là không đúng quy định của pháp luật vì các bị cáo không phải tự ra đầu thú mà do tin báo và cơ quan Công an đến bắt giữ, và không phải là tự nguyện bồi thường thiệt hại; hành vi của các bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, coi thường sức khỏe của người khác.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Đặng Hoài L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã phân tích, kết luận toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Từ đó cho rằng, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp, nên đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; sau khi nghe quan điểm Kiểm sát viên, ý kiến của bị cáo, bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Đơn kháng cáo của ông Đặng Hoài L gửi trong thời hạn quy định nên hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Xét các nội dung kháng cáo của bị hại Đặng Hoài L, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về xác định tiền án của các bị cáo:
Nguyễn Tuấn C - Sinh ngày 29/11/1996 bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự theo Bản án số 22/2014/HSST ngày 08/4/2013. Khi phạm tội bị cáo là vị thành niên, và phạm tội ít nghiêm trọng. Bị cáo cũng đã nộp tiền án phí vào ngày 24/10/2014 (BL.39). Căn cứ các quy định về đương nhiên được xóa án tích quy định tại các điều 64, 77 Bộ luật hình sự năm 1999 và các điều 70, 107 Bộ luật hình sự năm 2015, Nguyễn Tuấn C đã được xóa án tích. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ coi đây là tình tiết về nhân thân của bị cáo là chính xác.
Trần Hoàng P bị xử phạt 07 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” theo Bản án số 77/2013/HSST ngày 27/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố B. Ngoài trách nhiệm hình sự, bị cáo còn phải chịu trách nhiệm bồi thường 1.325.000 đồng và án phí hình sự. Đến ngày 03/7/2017, bị cáo mới nộp tiền án phí hình sự nên không đủ điều kiện là đã được xóa án tích. Tòa án sơ thẩm đã áp dụng tình tiết “Tái phạm” theo điểm g Khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với bị cáo là chính xác.
. Về việc đầu thú của các bị cáo:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiếp nhận tố giác,tin báo tội phạm vào ngày 20/01/2017 của bà Nguyễn Thị H (BL.81); tuy nhiên, các bị cáo cũng đã ra đầu thú vào ngày 25/01/2017, có Biên bản về việc người phạm tội ra đầu thú (BL.42, 62). Do đó, Tòa án sơ thẩm đã áp dụng Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là đúng.
. Về vấn đề tự nguyện bồi thường thiệt hại:
Tòa sơ thẩm chỉ ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường giữa các bị cáo và bị hại tại phiên tòa mà không coi đây là tình tiết giảm nhẹ như kháng cáo của bị hại.
. Về tính chất côn đồ, coi thường sức khỏe người khác:
Tòa án sơ thẩm đã nhận định hành vi của các bị cáo thể hiện sự coi thường sức khỏe của người khác. Xét kháng cáo của bị hại thấy rằng, các bị cáo có nhân thân xấu; chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhưng thực hiện hành vi phạm tội, và phạm tội rất quyết liệt. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị hại về tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ của các bị cáo.
. Ngoài ra, ông Đặng Hoài L bị thương tích đứt lìa ngang đốt gần các ngón 2-3 bàn tay phải, do đó là trường hợp bị cố tật nhẹ. Tuy tình tiết gây cố tật nhẹ cho nạn nhân đã được xóa bỏ trong Điều luật 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi), nhưng là tình tiết cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
. Từ những nhận định trên, xét hình phạt Tòa sơ thẩm tuyên đối với các bị cáo là có phần nhẹ, nên chấp nhận kháng cáo của bị hại về tăng hình phạt đối với các bị cáo.
. Về việc áp dụng điều luật:
So sánh Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 với Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 thì cả hai tội đều có mức hình phạt cao nhất là tù Chung thân; hình phạt tù thấp nhất là 06 tháng; hình phạt thấp nhất là Cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Do đó, hai điều luật quy định về tội phạm và hình phạt bằng nhau, nên điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 không phải là điều luật có lợi hơn. Do đó, phải áp dụng Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 là điều luật có hiệu lực khi hành vi của các bị cáo được thực hiện để xử phạt các bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, áp dụng “tinh thần” có lợi của khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt (không được xử phạt các bị cáo quá 06 năm tù). Với phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa điều luật áp dụng đối với các bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo của bị hại Đặng Hoài L, sửa bản án sơ thẩm. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tuấn C, Trần Hoàng P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999,
Xử phạt Nguyễn Tuấn C 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2017.
Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999,
Xử phạt Trần Hoàng Ph 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2017.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số 80/2017/HSST ngày 24/10/2017 của Tòa án nhân dân thành phố B không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị hại Đặng Hoài L không phải chịu
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện KSND tỉnh BR– VT; - PV 27 Công an tỉnh BR-VT; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - Trại tạm giam –Công an tỉnh BR-VT; - Tòa án nhân dân Tp. B; - Viện KSND Tp. B; - Công an Tp. B; - Chi cục THADS Tp. B; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Hiến |