- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Hùng"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của anh Huỳnh Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2018/HNGĐ-PT Ngày 18 tháng 12 năm 2018 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Liên.
Các Thẩm phán:
Ông Lê Văn Thường.
Bà Hồ Tuấn Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyên Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định: Bà Võ Thị Lệ Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 01/2018/TLPT-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2018 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con .
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2018/HNGĐ-ST ngày 16/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 01/2018/QĐ-PT ngày 03/12/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Huỳnh Văn H; cư trú tại: Khu vực T, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định (Có mặt).
- Bị đơn: Nguyễn Thị H; cư trú tại: Nhà Trọ tập thể Trường Phổ Thông Trung Học P, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (Có mặt).
Người kháng cáo: Anh Huỳnh Văn H là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Huỳnh Văn H và chị Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn ngày 05/6/2014, tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã A, trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Theo anh H, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, đến tháng 6/2017 phát sinh mâu thuẫn gay gắt và sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân chính, do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống và chị H có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác. Anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn, nên yêu cầu được ly hôn chị H. Chị H thống nhất như trình bày của anh H về thời gian, điều kiện kết hôn. Nhưng theo chị, do không hiểu nhau, anh H lại gia trưởng, quyết đoán, chị không làm theo thì anh đánh chị, nên vợ chồng thường hay cãi vã, mâu thuẫn. Từ tháng 6/2017 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân, không còn tình cảm, trách nhiệm với nhau, Chị thấy mâu thuẫn không thể hàn gắn, nên đồng ý ly hôn.
- Về quan hệ nuôi con chung: Anh H chị H thống nhất có 02 con chung là Huỳnh Thanh T, sinh ngày 12/02/2015 và Huỳnh Thiên Quỳnh C, sinh ngày 18/01/2017, đang ở chung với chị H, sức khỏe bình thường. Anh H yêu cầu được nuôi cháu T, để chị H nuôi cháu C, không bên nào cấp dưỡng nuôi con bên nào. Còn chị H yêu cầu được nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh H chị H thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 31/2018/HNGĐ-ST ngày 16/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Huỳnh Văn H với chị Nguyễn Thị H.
Về quan hệ nuôi con chung:
- Giao hai cháu Huỳnh Thanh T, sinh ngày 12/02/2015 và cháu Huỳnh Thiên Quỳnh C, sinh ngày 18/01/2017, sức khỏe bình thường cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng;
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh H và chị H không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về quan hệ hôn nhân, quan hệ tài sản chung, nợ chung, án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 24 tháng 10 năm 2018, bị đơn anh Huỳnh Văn H kháng cáo bản án sơ thẩm về quan hệ nuôi con chung, với nội dung: Yêu cầu được nuôi cháu T, để chị H nuôi cháu C, không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng và đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh Huỳnh Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Anh Huỳnh Văn H kháng cáo yêu cầu được trực tiếp nuôi con cháu Huỳnh Thanh T, để chị H nuôi cháu Huỳnh Thiên Quỳnh C, không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào, nhưng chị H không đồng ý. Thấy rằng: Cha mẹ ly hôn, nhưng vẫn phải có quyền và nghĩa vụ đối với con chung chưa thành niên. Việc giao con chung chưa thành niên cho ai trông nom nuôi dưỡng phải xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của người con. Từ tháng 6/2017 cho đến nay, cả hai cháu T, C đều ở chung với chị H, do chị H trực tiếp nuôi dưỡng; chị H có nơi ở, nghề nghiệp ổn định, chị vẫn thương yêu và có trách nhiệm với các cháu. Mặt khác, cháu T còn nhỏ, lứa tuổi các cháu rất cần tình thương yêu, sự chăm sóc tỉ mỉ, chu đáo của người mẹ. Hơn nữa, hai cháu sống chung với nhau đã lâu, nếu tách ra sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển tâm, sinh lý của các cháu. Án sơ thẩm đã giao hai cháu T, C cho chị H nuôi dưỡng là đảm bảo cho quyền lợi về mọi mặt của các cháu, phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Do kháng cáo của anh H không được chấp nhận, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV thì anh H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 282, 293 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân, quan hệ chia tài sản chung, án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 81, 82, 83, của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV. Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của anh Huỳnh Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
1. Về nuôi con chung:
- Chị Nguyễn Thị H được nuôi dưỡng hai con chung là Huỳnh Thanh T, sinh ngày 12/02/2015 và Huỳnh Thiên Quỳnh C, sinh ngày 18/01/2017.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu, Tòa không giải quyết.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, không bên nào được ngăn cản.
2. Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân, quan hệ chia tài sản chung, nợ chung, án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp.
3. Về án phí: Anh Huỳnh Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004077 ngày 24 tháng 10 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P, anh H đã nộp đủ.
4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Định; - TAND huyện P; - CC THA dân sự huyện P; - Các bên đương sự; - Lưu: HS, Tòa dân sự. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thúy Liên |