vanban.org

Bản án 01/2018/HC-ST — Hành chính

TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 21/12/2018 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào các Điều 3, 30, 31, 115, 116, điểm a khoản 2 Điều 193; Điề u 362 Luật tố tụng hành chính;

Căn cứ Điều 6, 39, 54, 57, 58, 66, 68 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Căn cứ khoản 4 Điều 10 Luật giao thông đường bộ năm 2008; Căn cứ Quy chuẩn 41/2016/BGTVT Quy chuẩ n kỹ thuậ t quố c g ia về bá o hiệ u đườ ng bộ năm 2016; Căn cứ điểm b khoản 4 điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-C… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "khiếu kiện QĐ xử phạt vi phạm hành chính"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào các Điều 3, 30, 31, 115, 116, điểm a khoản 2 Điều 193; Điề u 362 Luật tố tụng hành chính;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Luật giao thông đường bộ; Điều 31 Luật tố tụng hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN THÀNH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 01/2018/HC-ST
Ngày: 21/12/2018.
V/v: Khiế u kiệ n QĐ xử phạ t hà nh chí nh.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trầ n Hồ ng Sơn; Bà Nguyễn Thị Sơn.

- Thư ký phiên toà: Ông Trầ n Văn Vũ

- Đại diện Việ n kiể m sá t nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Toán Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 21/12/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2017/TLST- HC ngày 30 tháng 10 năm 2017 về việc “Khiế u kiệ n Quyế t đị nh xử phạ t hà nh chí nh” giữ a các đương sự:

1.Ngườ i khở i kiệ n: Ông T, sinh năm 1980.

Đị a chỉ : Số nhà 21, ngõ 10, đườ ng T, K, T, thành phố N, tỉnh N. (Vắ ng mặ t)

Ngườ i bả o vệ quyề n và lợ i í ch hợp pháp của người khởi kiện: Ông Lê Văn L- Luậ t sư củ a Văn phò ng Luậ t sư Hưng Đạ o Thăng Long.

Đị a chỉ : Số 164 (số 1 cũ), phố V, phườ ng Y, quậ n C, thành phố H. (Có mặt)

2. Ngườ i bị kiệ n: Trưở ng Công an huyệ n Thuậ n Thà nh , tỉnh Bắc Ninh do ông Ông Hoà ng Như C - Trưở ng công an huyệ n Thuậ n Thà nh đại diệ n theo phá p luậ t . (Vắ ng mặ t)

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạ m Văn Tr - Phó trưởng Công an huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)

3. Ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan : Công ty cổ phầ n BOT 38 do ông Giáp Văn B - Chứ c vụ : Trưở ng phò ng kỹ thuậ t thi công Công ty cổ phầ n BOT 38 là đạ i diệ n theo ủ y quyề n. (Vắ ng mặ t)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng phía người khởi kiện ông T trình bày:

Ngày 27/7/2017 ông điề u khiể n xe ôtô mang BKS 29LD- 02469 đi từ Trạ m Lộ (QL38) rẽ vào đường chéo gần ngã tư Đông Côi để ra QL 17, đi gầ n hế t đườ ng ché o này ông bị một Đội Cảnh sát giao thông ra tín hiệu dừng xe và thông báo lỗi cho rằ ng ông đi và o đườ ng cấ m . Ông có đề nghị Cá n bộ công an giao thông chỉ rõ lỗ i vi phạm của ông nhưng cán bộ không chứng minh được hành v i vi phạ m củ a ông. Sau đó ông Lê Tuấ n A và ông Nguyễn Đức T vẫn tiến hành lập Biên bản vi phạm hành chính với nội dung: “Xe ôtô mang biể n số 29LD- 02469 vi phạm đi vào đường cấm. NĐ46/2016/NĐ- CP”.

Ngày 02/8/2017 ông Phạm Văn Tr - Phó trưở ng Công an huyện Thuận Thành ký Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 003006/QĐ- XPHC đối với lỗ i đi vào đường cấm vớ i mứ c phạ t tiề n 1.000.000đ và tướ c quyề n sử dụ ng Giấ y phé p lá i xe 02 tháng đối với ông.

Ngày 09/8/2017 ông là m đơn tố cá o về nhữ ng sai phạ m trong việ c xử phạ t và

áp dụng vi phạm hành chính trái quy định của Đội cảnh sát giao thông Công an huyệ n Thuậ n Thà nh.

Ngày 25/9/2017 ông nhậ n đượ c Quyế t đị nh giả i quyế t khiế u nạ i số 26/QĐ-CATT do ông Hoàng Như C ký nhưng nội dung quyết định chưa chỉ ra được lỗi vi phạm của ông.

Tại điểm đ khoản 1 và điểm d khoản 2 Điều 3 Luậ t xử lý vi phạ m hà nh chí nh năm 2012 quy định: “Ngườ i có thẩ m quyề n xử phạ t có trá ch nhiệ m chứ ng minh vi phạm hành chính . Cá nhân , tổ chứ c bị xử phạ t có quyề n tự mì nh hoặ c thông qua ngườ i đạ i diệ n hợ p phá p chứ ng minh mì nh không vi phạ m hà nh chí nh” . Như vậ y căn cứ và o quy đị nh củ a phá p luậ t ông cho rằ ng Quyế t đị nh xử phạ t hà nh chí nh củ a Công an huyệ n Thuậ n Thà nh đố i vớ i ông hoà n toà n sai , cán bộ Cảnh sát giao thông không chứ ng minh đượ c lỗ i vi phạ m củ a ông , đã vi phạ m nguyên tắ c xử lý vi phạ m hành chính nhưng vẫn tiến hành ra Quyết định xử phạt hành chính đối với ông.

Ngoài ra ông cho rằng : Việ c cắ m biể n bá o bị che khuấ t bở i biể n chỉ dẫ n đị a

giớ i, không có biể n chỉ dẫ n lố i đi ở vị trí cấ m rẽ . Do vậ y, nhữ ng ngườ i lá i xe như ông không thể quan sá t thấ y biể n để chấ p hà nh nên biể n không có giá trị

. Trong trườ ng hợ p biể n bá o có giá trị thì lỗ i củ a ông chỉ là lỗi không chấp hành biển báo hiệ u chứ không phả i lỗ i đi và o đườ ng cấ m.

Nay ông đề nghị Tòa án nhân dân huyệ n Thuậ n Thà nh: Hủy Quyết định xử phạt vi phạ m hà nh chí nh số: 003006/QĐ-XPHC ngà y 02/8/2017 của Trưởng Công an huyện Thuậ n Thà nh; Yêu cầ u Công an huyệ n Thuậ n Thà nh bồ i thườ ng cho ông tổ ng sôtiền là́ 51.900.000đ (bao gồm: tổ ng cá c lầ n chi phí đi lại , tiền mất thu nhập do nghỉ việ c 17.000.000đ; tiền nộp phạt 1.000.000đ, chi phí mời luật sư 15.000.000đ, chi phí giám định 5.000.000đ, tiền tổn thất tinh thần 13.900.000đ (10 tháng lương cơ bản x 1.390.000đ/ 1 tháng) và công khai xin lỗ i ông bằ ng văn bả n.

Phía người đại diện theo ủy quyền của Trưởng Công an huyệ n Thuậ n Thà nh trình bày:

Việc ông T yêu cầu hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính 003006/QĐ-XPHC ngà y 02/8/2017 của Phó Trưởng Công an huyện Thuận Thà nh; yêu cầ u Công an huyệ n Thuậ n Thà nh bồ i thườ ng cho ông tổ ng số là 51.900.000đ và công khai xin lỗ i ông bằ ng văn bả n là không có căn cứ bởi lẽ:

Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 27/7/2017 ông T, sinh năm 1979 điề u khiể n xe ôtô BKS 29LD- 02469 đi trên QL38, hướng từ xã Trạm Lộ đến ngã tư Đông Côi, khi đi đến km số 17+100 đường QL 38 (vị trí có đặt biển P.103c “Cấm ô tô rẽ trái”) nhưng ông T vẫ n điều khiển xe rẽ trái vào đường tỉnh lộ 283. Do vậ y Tổ công tác của Đội cảnh sát giao thông Công an huyệ n Thuậ n Thà nh đã ra tín hiệu dừng xe, thông báo lỗi vi phạm “Đi vào đường cấm” cho ông T biết và lập Biên bản vi phạm hành chính số 0002253/BB-VPHC với lỗi: Ông T điều khiển xe ôtô BKS 29LD- 02469 vi phạm đi vào đường cấm. NĐ46/2016/NĐ- CP và tạm giữ Giấy phép lái xe số 370050002265 hạng C cấp ngày 13/6/2016 mang tên ông Trần Ngọc T, sinh năm 1979. Ông T có ký vào Biên bản vi phạm hành chính và có ghi vào biên bản với nội dung: Biển cấm rẽ trái đặt sau biển chỉ dẫn rất to, không thể quan sát.

Như vậy cán bộ cảnh sát giao thông Công an huyện Thuận Thành khi trực tiếp phát hiện ông T điều khiển xe ôtô rẽ trái vào đường có đặt Biển P.103c “Cấm ô tô rẽ trái” có quyền dừng xe để xử lý vi phạm.

Theo Quy chuẩ n 41/2016/BGTVT Quy chuẩ n kỹ thuậ t q uố c gia về Bá o hiệ u

đườ ng bộ tại chương 4, điều 26 mục 26.1 thì biển số P.103c thuộc loại biển báo cấm. Ý nghĩa của biểm báo này để báo đường cấm các loại xe cơ giới kể cả xe máy 3 bánh có thùng rẽ trái . Do vậ y ông T điề u khiể n xe ôtô vẫ n rẽ trá i và o đườ ng có đặ t Biển P.103c “Cấm ô tô rẽ trái” là đã vi phạ m đi và o đườ ng cấ m nên Công an huyệ n Thuậ n Thành xử phạtông T lỗ i “Đi và o đườ ng cấ m” là đú ng quy đị nh củ a phá p luâ.̣ t

Tại điểm b khoản 4 Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 có hiệu lực từ ngày 1/8/2016 quy định: Phạt tiền từ 800.000 đến 1.200.000đ đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi sau đây: “… b. Đi và o đườ ng cấ m , khu vự c cấ m ; đi ngượ c chiề u củ a đườ ng mộ t chiề u, đi ngượ c chiề u trên đườ ng có biể n “Cấ m đi ngượ c chiề u” trừ cá c hà nh vi vi phạ m quy đị nh tạ i điể m a khoả n

8 Điề u nà y và cá c xe ưu tiên đang là m nhiệ m vụ khẩ n cấ p theo quy đị nh;”

Tại điểm b khoản 12 Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 có hiệu lực từ ngày 1/8/2016 quy định: Ngoài việc bị phạt tiền người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây

: “b. Thự c hiệ n hà nh vi quy đị nh tạ i điể m h , điể m i khoản 3; Điể m b, điể m c, điể m e, điể m g, điể m h khoả n 4, khoản 5; Điể m a, điể m b, điể m d khoả n 6; Điể m a, điể m c khoả n 7 Điề u nà y cò n bị tướ c quyề n sử dụ ng Giấ y phé p lá i xe từ 01 tháng đến 03 tháng”.

Ngày 02/8/2017 Công an huyện Thuận Thành ra Thông báo số 3006/CATT (VPHC) tới Sở giao thông vận tải tỉnh Ninh Bình về việc tước quyền sử dụng giấy phép lái xe 2 tháng (kể từ ngày 02/8/2017 đến ngày 02/10/2017) đối với ông Trần Ngọc T. Đến ngày 02/10/2017 Công an huyện Thuận Thành đã ra quyết định số 3006 trả lại Giấy phép lái xe cho ông T.

Về trí cắm biể n bá o thì theo Thông bá o số 210/TB- BGTVT ngà y 12/6/2017 của Bộ giao thông vận tải Kết luận về một số nội dung vướng mắc trong quá trình triể n khai thự c h iệ n Quy chuẩ n kỹ thuậ t quố c gia về bá o hiệ u đườ ng bộ QCVN 41: 2016/BGTVT. Tại điểm 2.8. Về quy đị nh đặ t biể n chỉ dẫ n lố i đi khi đặ t biể n cấ m đã hướ ng dẫ n việ c đặ t biể n chỉ dẫ n lố i đi khi đặ t biể n cấ m là không bắ t buộ c m

à tùy thuộ c và o thự c tế (nế u là đườ ng cụ t , đườ ng trá nh để phụ c vụ thi công thì mớ i bắ t buộ c lắ p đặ t). Do vậy khi có biể n bá o cấ m mà ngườ i điề u khiể n xe vẫ n vi phạ m thì lự c lượ ng Công an có thẩ m quyề n xử phạ t . Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ và căn cứ pháp lý nêu trên thì hành vi ông T điều khiển xe ôtô mang BKS 29LD- 02469 đi vào đường có đặt Biển P.103c “Cấm ô tô rẽ trái” đã vi phạ m đi và o điểm b khoản 4 Điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP. Do vậy việc lập Biên bản vi phạm hành chính số 0002253/BB-VPHC ngày 27/7/2017 và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 003006/QĐ-XPHC ngà y 02/8/2017 của Công an huyện Thuận Thành đối với ông T về hành vi “ Điề u khiể n xe ô tô đi và o đườ ng cấ m ” là đúng quy định của pháp luật. Do vậ y Công an huyệ n Thuậ n Thà nh giữ nguyên Quyế t đị nh xử phạ t vi phạ m hà nh chính số : 003006/QĐ-XPHC ngà y 02/8/2017; không đồ ng ý bồ i thườ ng số tiề n 51.900.000đồ ng và công khai xin lỗ i bằ ng văn bả n đố i vớ i ông T.

Ngoài ra đại diện của người bị kiện còn đề nghị Tòa án làm rõ việ c ông T, sinh năm 1980 có quyền khởi kiện hay không . Bở i vì : Ngày 27/7/2017, Công an huyệ n Thuậ n Thà nh lậ p Biên bả n vi phạ m hà nh chí nh và ra Quyế t đị nh xử phạt vi phạm hành chính đối với ông T, sinh năm 1979 nhưng ngườ i khở i kiệ n tạ i Tò a á n là ông T, sinh năm 1980. Nếu ông hành sinh năm 1980 có quyền khởi kiện thì đề nghị xử lý hành vi khai man hồ sơ để đượ c thi Giấ y phé p lá i xe hạ ng C và được cấp Giấy phép lái xe hạng C của ông T khi ông T chưa đủ tuổ i theo quy đị nh củ a phá p luậ t.

Phía ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phầ n BOT 38 do ông Giáp Văn B - Chứ c vụ : Trưở ng phò ng kỹ thuậ t thi cô ng Công ty cổ phầ n BOT 38 là đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt . Theo biên bả n là m việ c ngà y 06/4/2018 ông Bình trình bày: Căn cứ Quyế t đị nh số 2350/QĐ- BGTVT ngày 20/6/2014 của Bộ giao thông vận tải về vi ệc phê duyệt dự án đầu tư , cải tạo nâng cấ p quố c lộ 38 đoạ n nố i QL1 vớ i QL5 đi qua đị a phậ n Bắ c Ninh và Hả i Dương theo hì nh thứ c Hợ p đồ ng B OT thì Công ty cổ phầ n BOT 38 đượ c giao là m nhà đầ u tư dự á n nà y do vậ y hệ thông bi ển báo an toàn giao thông do Công ty tổ chức thực hiệ n, quản lý, bảo trì theo quy định . Tuy nhiên tạ i thờ i điể m ngà y 27/7/2017 thì dự án chưa được Bộ giao thông vận tải chấp thuận và đưa vào khai thác do vậ y Công ty không nắ m rõ vị trí cắm Biển báo “Cấm ô tô rẽ trái” đặt trước hay sau biển chỉ dẫn . Nhưng tạ i thờ i điể m hiệ n tạ i (ngày 06/4/2018) Biể n bá o “Cấ m ô tô rẽ trá i” đượ c cắ m phía trước biển chỉ dẫn theo đúng thiết kế đã được phê duyệt.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành cho các bên đương sự đối thoại nhưng người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu mức bồi thường thiệt hại cao hơn trong đơn khởi kiện. Người bị kiện vẫn giữ nguyên quyết định hành chính bị khởi kiện.

Tại phiên toà hôm nay:

Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu Tòa án hủy Quyế t đị nh xử phạ t vi phạ m hà nh chí nh sô: 003006́

/QĐ-XPHC ngà y02/8/2017 của Phó Trưởng Công an huyệ n Thuậ n Thà nh; Yêu cầ u Công an huyệ n Thuậ n Thà nh bồ i thườ ng cho ông tổ ng số tiền la51.900̀

.000đ và công khai xin lỗ i bằ ng văn ba.̉ n

Ngườ i đại diện theo ủy quyền của ngườ i bị kiệ n không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. đề nghị Tòa án bác yêu cầu của người khởi kiện và làm rõ trách nhiệm của những người liên quan đến việc cấp Giấy phép lái xe cho ông T khi ông T chưa đủ tuổi.

Ngườ i bả o vệ quyề n và lợ i í ch hợ p phá p củ a người khởi kiện nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện vì: Theo Quy chuẩn 41 thì đoạn đường Công an huyện Thuận Thành xử phạt ông T không phải là đường cấm vì nếu là đườ ng cấ m thì phả i đặ t biể n P .101 hoặ c P103a; Việc đặt biển P103.c không đúng theo quy đị nh tạ i Điề u 20 Quy chuẩn 41; Việc giao quyết định xử phạt hành chính của Công an huyện Thuận Thành cho ông T cũng trái quy định của pháp luật. Do vậy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 003006/QĐ-XPHC ngà y 02/8/2017 của Công an huyện Thuận Thành vi phạm pháp luật nên ông đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện.

Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt do vậy theo khoản 1 Điều 158 Luật tố tụng hành chính Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan.

Các đương sự không có ý kiến tranh luận gì khác và giữ nguyên lời trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng và đầy đủ theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Thông tư số 06 ngày 08/4/2016 của Bộ giao thông vậ n tả i; Nghị định 46 ngày 26/5/2016 của Chính phủ; Các điều 58, 66, 68 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính. xử : Không chấ p nhậ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a ông T về việ c yêu cầ u Tò a á n hủ y quyế t đị nh xử phạ t vi phạ m hà nh chí nh trong lĩ nh vự c giao thông đườ ng bộ số 003006 ngày 02/8/2017 của Trưởng Công an huyện thuận Thành . Do không có cơ sở chấ p nhậ n yêu của hủy quyết định nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu củaông T về việ c buộ c Trưở ng công an huyệ n Thuậ n Thà nh phả i h oàn trả tiền phạt cũng như các yêu cầ u bồ i thườ ng khá c củ aông T.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn kiến nghị HĐXX xác định lại người bị kiện là Trưởng Công an huyện Thuận Thành do ông Hoàng Như C đạ i diệ n chứ không phả i ông Hoàng Như C- Trưở ng Công an huyệ n Thuậ n Thà nh.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

- Về ngườ i khở i kiệ n, quyền khởi kiện:

Khi bị lậ p Biên bả n vi phạ m hà nh chí nh số 0002253/BB-VPHC ngày 27/7/2018 và Quyế t đị nh xử phạ t vi phạ m hà nh chí nh số 003006/QĐ-XPHC ngà y 02/8/2017 của Công an huyệ n Thuậ n Thà nh thì ông T xuấ t trì nh Giấ y phé p lá i xe mang tên hành, sinh năm 1979. Đị a chỉ : Phố Kỳ Lân , phườ ng Tân Thà nh , thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Do vậ y Công an huyệ n Thuậ n Thà nh đã lậ p Biên bả n vi phạ m và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông T, sinh năm 1979. Tuy nhiên khi gử i đơn khở i kiệ n đế n Tò a á n thì ngườ i khở i kiệ n là ông T, sinh năm 1980. Đị a chỉ : Phố K, phườ ng T, thành phố N, tỉnh N.

Theo lờ i khai ngà y 08/12/2017 của ông T tại Tòa án thì sở dĩ có sự chênh lệch

năm sinh giữ a Giấ y phé p lá i xe và Căn cướ c công dân củ a ông là khi ông họ c để thi Giấ y phé p lá i xe hạ ng C thì ông chưa đủ 20 tuổ i nên Trườ ng dạ y nghề và sở Giao thông vậ n tả i Ninh Bì nh đã điề u chỉ nh năm sinh củ a ông để ông đủ tuổ i thi Giấ y phép lái xe. Ông khẳ ng đị nh là ông sinh năm 1980.

Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành đã ra Quyết định ủy thác cho Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình thu thập chứng cứ. Tại công văn số 42 ngày 13/6/2018 của Sở Giao thông vận tải tỉnh Ninh Bình cung cấp : Sở GTVT Ninh Bình cấp GPLX số 3700550002265 cho ông T, sinh ngày 16/9/1979; Nơi cư trú : Số nhà 21, phố K, phườ ng T, thành phố N , tỉnh N. Theo hồ sơ xin họ c , thi củ a ông T năm sinh củ a ông T là 1979. Do đó tại thời điểm ngày 17/01/2000 Sở Giao thông vận tải Ninh Bì nh không điề u chỉ nh năm sinh củ a ông T như lờ i ông T trình bày.

Tòa á n đã yêu cầ u ông T cung cấ p chứ ng cứ chứ ng minh ông T, sinh năm 1979 và ông T, sinh năm 1980 là một người.

Ngày 27/7/2018 ông T có bản tường trình và khẳng định sở dĩ có sự sai lệch

năm sinh củ a ông giữ a Giấ y phé p lá i xe và Căn cước công dân là do sai sót khách quan từ 20 năm về trướ c nên ông đã là m đơn đề nghị Sở G iao thông vận tải Hà Nội sử a đổ i lạ i năm sinh trên GPLX số 3700550002265 từ 1979 thành 1980 và sở G iao thông vận tải Hà Nội đã chấp thuậ n.

Ngày 12/9/2018 ông T đã có đơn đề nghị Tò a á n thu thậ p chứ ng cứ và đề nghị

giám định chữ ký của ông tại Biên bản vi phạm hành chính số 0002253/BB-VPHC ngày 27/7/2017 và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 003006/QĐ-XPHC ngày 02/8/2017 của Công an huyện Thuận Thành vớ i chữ ký củ a ông trong đơn khởi kiện và các biên bản làm việc tại Tòa án.

Tại Kết luận giám định số 298/C09 ngày 16/10/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ công an đã kế t luậ n : “Chữ ký đứ ng tên hà nh tạ i Biên bản vi phạm hành chính số 0002253/BB-VPHC ngày 27/7/2017 và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 003006/QĐ-XPHC ngà y 02/8/2017 của Công an huyện Thuận Thành so vớ i chữ ký , chữ viế t củ a ngườ i khở i kiệ n tạ i Tòa án do cùng một người ký , viế t ra”. Như vậy có đủ căn cứ để xác định ông T, sinh năm 1979 và sinh năm 1980 là một người do vậ y theo quy định tại Điều 115 Luật tố tụng hành chính thì ông T, sinh năm 1980 có quyền khở i kiệ n trong vụ án này.

Về ngườ i bị kiệ n : Theo Đơn khở i kiệ n củ a ông T, Tòa án ra Thông bá o thụ lý vụ án và Quyế t đị nh đưa vụ á n ra xé t xử xá c đị nh ngườ i bị kiệ n là ông Hoàng Như C

- Trưở ng công an huyệ n Thuậ n Thà nh. Tại phiên tòa hôm nay đạ i diệ n Viện kiểm sát đề nghị xác định người bị kiện là Trưởng Công an huyện Thuận Thành do ông Hoàng Như C đạ i diệ n theo pháp luật. HĐXX xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiể m sá t là phù hợ p , do vậ y xá c đị nh ngườ i bị kiệ n là Trưở ng Công an huyệ n Thuậ n Thành do ôngHoàng Như C – Trưở ng Công an huyệ n Thuậ n Thà nhđạ i diệ n theo phá p luậ t.

Đối tượng khởi kiện: Tại phiên tòa hôm nay ông T trình bày do Quyết định xử phạt hành chính mà ông nhận được bị mờ nên ông không nhìn rõ số nên ông viết trong đơn khởi kiện là Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 013006 nay ông đề nghị được thay đổi lại là Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 003006. HĐXX xét thấy đề nghị này của ông T là có căn cứ, không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên chấp nhận. Theo quy định tại Điều 3; Điều 30 Luật tố tụng hành chính thì Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 003006/QĐ-XPHC ngà y 02/8/2017 của Phó trưởng Công an huyệ n Thuậ n Thà nhlà đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính.

Thời hiệu khởi kiện: Ngày 02/8/2017 Phó trưởng Công an huyệ n Thuậ n Thà nh

ký Quyế t đị nh xử phạ t vi phạ m hà nh chí nh số 003006/QĐ-XPHC; Ngày 19/9/2017 Trưởng Công an huyện Thuận Thành ban hành Quyết định về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) số 26/QĐ- CATT với nội dung giữ nguyên Quyết định xử phạt hành chính đối với ông Trần Ngọc T.

Ngày 29/9/2017 ông Trần Ngọc T đến nhận và ký nhận Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Ngày 20/10/2017 Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành nhận được đơn khởi kiện của ông Trần Ngọc T. Như vậy thời hiệu khởi kiện vẫn còn theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

Thẩm quyền giải quyết: Quyết định hành chính bị kiện là Quyế t đị nh xử phạ t vi phạm hành chính số 003006/QĐ-XPHC ngà y 02/8/2017 của Phó trưởng Công an huyệ n Thuậ n Thà nh. Căn cứ Điều 31 Luật tố tụng hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành.

2] Về nội dung:

Trình tự thủ tục ban hành quyết định: Ngày 27/7/2017 ông T, điề u khiể n xe ôtô BKS 29LD- 02469 đi trên QL38, hướng từ xã Trạm Lộ đến ngã tư Đông Côi, khi đi đến km số 17+100 đường QL 38 (vị trí có đặt biển P.103c “Cấm ô tô rẽ trái”) nhưng ông T vẫ n điều khiển xe rẽ trái vào đường tỉnh lộ 283. do vậ y ông T bị lập Biên bản vi phạm hành chính số 0002253/BB-VPHC với lỗi: Ông T điều khiển xe ôtô BKS 29LD- 02469 vi phạm đi vào đường cấm. Ông T có ký vào Biên bản vi phạm hành chính. Tại Biên bản vi phạm hành chính số 0002253/BB-VPHC có ghi: Yên cầ u ông T có mặt lúc 08 giờ ngà y 03/8/2017 tại Đội CSGT, TT, CĐ Công an huyệ n Thuậ n Thành để giải quyết vụ việc . Ngày 02/8/2017 Công an huyệ n Thuậ n Thà nh ra Quyế t đị nh xử phạ t vi phạ m hà nh chí nh số 003006/QĐ-XPHC.

Như vậy, về trình tự thủ tục ban hành quyết định xử phạt đúng theo quy định tại Điều 57, Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về thời hiệu ban hành quyết định: Căn cứ Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thời hiệu xử lý vi phạm hành chính là 01 năm. Ngày phát hiện vi phạm và lập biên bản là ngày 27/7/2017, ngày 02/8/2017 ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là còn trong thời hạn luật định.

Về thời hạn xử phạt: Căn cứ vào Điều 61 và Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày kể từ ngày lập biên bản. Trường hợp có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình thì thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày. Ngày 27/7/2017 Công an huyện Thuận Thành lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Trần Ngọc T và đến ngày 02/8/2017 ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng thời hạn xử phạt theo luật định.

Thẩm quyền ban hành quyết định: Ngày 01/8/2016 Trưởng Công an huyện Thuận Thành có Thông báo giao quyền xử phạt vi phạm hành chính và đăng ký quản lý phương tiện số 24/ TB- CATT cho ông Phạm Văn Truyền, Phó trưởng Công an huyện Thuận Thành. Theo quy đị nh t ại khoản 4 Điều 39; Điều 54; Điều 68 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điểm b khoản 4; điểm b khoản 12 Điều 5 của Nghị định số: 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt và đường bộ thì ông Phạm Văn Tr - Phó trưởng Công an huyện Thuận Thành ban hành quyết định xử phạt hành chính đối với ông T là đúng thẩm quyền.

Về hình thức ban hành quyết định: Quyết định xử phạt hành chính số 003006/QĐ-XPHC ngày 02/8/2017 của Trưởng Công an huyện Thuận Thành ban hành đúng theo mẫu số 02/QĐ-XPHC ban hành kèm theo Thông tư số 34/2014/TT-BCA ngày 15/8/2014 của Bộ Công an. Tuy nhiên trong Biên bản vi phạm hành chính, cán bộ lập biên bản không tuân thủ đúng, đầy đủ quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính. Cụ thể: không ghi đầy đủ nội dung biên bản, không thông báo cho ông T biết trường hợp vi phạm này được quyền giải trình trong thời gian bao nhiêu ngày làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của ông T nên cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

Về căn cứ ban hành quyết định:

Ngày 27/7/2017 ông T điề u khiể n xe ôtô BKS 29LD- 02469 đi trên QL38, hướng từ xã Trạm Lộ đến ngã tư Đông Côi, khi đi đến km số 17+100 đường QL 38 (vị trí có đặt biển P.103c “Cấm ô tô rẽ trái”) nhưng ông T vẫ n điều khiển xe rẽ trái vào đường tỉnh lộ 283. Do vậ y Tổ công tác của Đội cảnh sát giao thông Công an huyệ n Thuậ n Thà nh đã ra tín hiệu dừng xe, thông báo lỗi vi phạm “Đi vào đường cấm” cho ông T biết và lập Biên bản vi phạm hành chính với lỗi: Ông T điều khiển xe ôtô BKS 29LD- 02469 vi phạm đi vào đường cấm và tạm giữ Giấy phép lái xe 02 tháng. Ông T có ký vào Biên bản vi phạm hành chính.

Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 12 Mục 4 Thông tư số 01/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016 của Bộ Công an quy định: Cán bộ thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát được dừng phương tiện để kiểm soát trong các trường hợp sau đây: “ a) Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị nghiệp vụ phát hiện, ghi nhận các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ.” Như vậy khi trực tiếp phát hiện ông T điều khiển xe ôtô rẽ trái vào đường có đặt Biển P .103c “Cấm ô tô rẽ trái” nên cán bộ thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát có quyền dừng xe để xử lý vi phạm.

Tại điể m a khoản 4 Điều 10 Luật giao thông đường bộ quy định: Biển báo cấm để biểu thị các điều cấm.

Theo Quy chuẩ n 41/2016/BGTVT Quy chuẩ n kỹ thuậ t quố c gia về Bá o hiệ u

đườ ng bộ quy đị nh:

Điề u 15 quy đị nh: Biển báo hiệu đường bộ gồm năm nhóm cơ bả n: Biể n bá o cấ m; biể n hiệ u lệ nh; biể n bá o nguy hiể m và cả nh bá o ; biể n chỉ dẫ n; biể n phụ và biế t viế t bằ ng chữ .

Tại khoản 15.1 Điều 15 quy định: Nhóm biến báo cấm là nhóm biển biểu thị các điề u cấ m mà ngườ i tham gia giao thông không đượ c vi phạ m. Biể n bá o cấ m chủ yế u có dạng hình tròn, viề n đỏ , nề n mà u trắ ng, trên nề n có hì nh vẽ hoặ c chữ số , chữ viế t màu đen thể hiện điều cấm, trừ mộ t số trườ ng hợ p đặ c biệ t.

Điề u 25 quy định: Tác dụng của biển báo cấm : Biể n bá o cấ m để biể u thị cá c

điề u cấ m. Ngườ i tham gia giao thông phả i chấ p hà nh nhữ ng điề u cấ m mà nộ i dung biể n đã thể hiệ n.

Tại Khoản 26.1 Điều 26 quy đị nh: Ý nghĩa sử dụng các biển báo c ấm thì B iển số P.103c thuộc loại biển báo cấm.

Tại phụ lục B, mục B.3 điể m b: Ý nghĩa của biển báo P.103c: Để báo đường

cấ m cá c loạ i xe cơ giớ i kể cả xe má y 3 bánh có thùng rẽ trái trừ xe má y 2 bánh, xe gắ n má y và cá c xe đượ c ưu tiên theo quy đị nh.

Như vậ y biể n bá o P .103c thuộ c nhó m biể n bá o cấ m chứ không phả i nhó m biể n

hiệ u lệ nh, chỉ dẫn. Vì vậy hành vi của ông T điề u khiể n xe ôtô rẽ trá i và o đườ ng có đặ t Biển P.103c “Cấm ô tô rẽ trái” là đ ã vi phạm lỗ i đi và o đườ ng cấ m nên Công an huyệ n Thuậ n Thà nh xử phạ t ông T lỗ i “Đi và o đườ ng cấ m” với mức phạt 1.000.000đ và tướ c quyề n sử dụ ng Giấ y phé p lá i xe 02 tháng là đúng quy định của pháp luật.

Tại Điều 30 Quy chuẩn 41 quy định: Vị trí đặt biển báo cấm theo chiều đi và

hướ ng hiệ u lự c củ a biể n:

+ Khoản 30.3 Điề u 30: Các biển cấm từ Biển số P .101 đến biển số P.120 không cầ n quy đị nh phạ m vi có hiệ u lự c củ a biể n, không có biể n bá o hế t cấ m.

+ Khoản 30.4 Điề u 30 quy đị nh: Kèm theo các biển báo cấm nêu tại khoản 30.3 Điề u nà y phả i đặ t cá c biể n chỉ dẫ n lố i đi cho xe bị cấ m (trừ trườ ng hợ p đườ ng cấ m vì lý do đường , cầ u tắ c mà không có lố i trá nh ) như quy đị nh ở Chương 7 “Biể n chỉ dẫ n trên đườ ng ôtô không phả i là đườ ng cao tố c”.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã làm việc với Công ty cổ phần BOT 38, phía Công ty xác nhận việc cắm biển bá o an toà n giao thông do Công ty thự c hiệ n tuy nhiên tạ i th ời điểm ngày 27/7/2017 thì dự án chưa được Bộ giao thông vận tải chấ p thuậ n và đưa và o khai thá c do vậ y Công ty không nắ m rõ vị trí đặt biể n bá o “Cấ m ô tô rẽ trá i” đặ t trướ c hay sau biể n chỉ dẫ n . Nhưng tạ i thờ i điể m hiệ n tại (ngày 06/4/2018) biể n bá o “Cấ m ô tô rẽ trá i” đượ c đặt phí a trướ c biể n chỉ dẫ n theo đú ng thiế t kế đã đượ c phê duyệ t.

Theo quy đị nh củ a L uật giao thông đường bộ: Tại khoản 1 Điề u 9: “ Ngườ i tham gia giao thông phả i đi theo chiề u đi củ a mì nh, đi đú ng là n đườ ng , phầ n đườ ng quy đị nh và phả i chấ p hà nh hệ thố ng bá o hiệ u đườ ng bộ ” . Tại khoản 1 Điề u 11: “ Ngườ i tham gia giao thông phả i chấ p hà nh hiệ u lệ nh và chỉ dẫ n củ a hệ thố ng bá o hiệ u đườ ng bộ ”.

Do vậ y việ c ông T cho rằng việc cắ m biể n bá o bị che khuấ t bở i biể n chỉ dẫ n đị a

giớ i, không có biể n chỉ dẫ n lố i đi ở vị trí cấ m rẽ do vậ y nhữ ng ngườ i lá i xe như ông không thể quan sá t thấ y biể n để chấ p hà nh nên biể n khôn g có giá trị là không có căn cứ.

Đối với yêu cầu buộc Công an huyện Thuận Thành phải bồi thường tổng số tiền

là 51.900.000đ và yêu cầu Công an huyện Thuận Thành phải công khai xin lỗi ông T bằng văn bản. HĐXX xét thấy Quyết định xử phạt hành chính số 003006/QĐ-XPHC ngày 02/8/2017 của Phó trưởng Công an huyện Thuận Thành đã bảo đảm về nội dung, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật vì vậy không có căn cứ để chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc T.

Đối với yêu cầu của đại diện theo ủy quyền của người bị kiện đề nghị xử lý đối với những người liên quan đến việc cấp Giấ y phé p lá i xe hạ ng C của ông Trần Ngọc Thà nh khi ông Trần Ngọc Thành chưa đủ tuổi theo quy đị nh củ a phá p luậ t . HĐXX xét thấy yêu cầu này không thuộc phạm vi khởi kiện trong vụ án này, nếu người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện có yêu cầu thì có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

[4] Về chi phí giám định: Do năm sinh của ông Trần Ngọc T theo Quyết định xử phạt hành chính và năm sinh của ông hành khi khởi kiện Quyết định xử phạt hành chính tại Tòa án không thố ng nhấ t và có sự sai lệch do vậy ông Trần Ngọc T là người có nghĩa vụ phải chứng minh ông là người có quyền khởi kiện trong vụ án do vậy ông T phải chịu tiền chi phí giám định theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên ông Trần Ngọc T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 3, 30, 31, 115, 116, điểm a khoản 2 Điều 193; Điề u 362 Luật tố tụng hành chính;

Căn cứ Điều 6, 39, 54, 57, 58, 66, 68 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Căn cứ khoản 4 Điều 10 Luật giao thông đường bộ năm 2008; Căn cứ Quy chuẩn 41/2016/BGTVT Quy chuẩ n kỹ thuậ t quố c g ia về bá o hiệ u đườ ng bộ năm 2016; Căn cứ điểm b khoản 4 điều 5 Nghị định 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đườ ng sắ t ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc T về việc hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 003006/QĐ-XPHC ngà y 02/8/2017 của Trưởng Công an huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh và yêu cầu Công an huyện Thuận Thành hoàn lại toàn bộ số tiề n đã nộp phạt theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 003006/QĐ-XPHC ngà y 02/8/2017 và bồi thường thiệt hại liên quan đến việc xử lý vi phạm hành chính trái quy định là 51.900.000đ (Năm mươi mố t triệ u chí n trăm nghìn đồng) và công khai xin lỗi bằng văn bản.

2. Về chi phí giám định: Ông Trần Ngọc T phải chịu 5.000.000đ (Năm triệ u đồ ng) tiền chi phí giám định chữ ký. Xác nhận ông T đã nộp đủ số tiền 5.000.000đ (Năm triệ u đồ ng).

Về án phí: Ông Trần Ngọc T phải chịu 300.000đồng án phí hành chính sơ thẩm. Xác nhận ông Trần Ngọc T đã nộp đủ tiền án phí hành chính sơ thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2012/01130 ngày 30/10/2017 của Thi hành án dân sự huyệ n Thuậ n Thành.

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ