vanban.org

Bản án 01/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Konplong, tỉnh Kon Tum Tuyên án 22/08/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Chấp nhận to n bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lương Thị H đề ngày 08 tháng 5 năm 2018.

Buộc bị đơn chị Võ Thị im A phải trả cho nguyên đơn chị Lương Thị H số tiền l : 253.000.000 đồng Hai trăm năm mươi ba triệu đồng . [2]. Về án phí dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận to n bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lương Thị H đề ngày 08 tháng 5 năm 2018.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KON PLÔNG
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2018/DS - ST
Ngày 22/8/2018 “V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KON PLÔNG TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hữu Nuôi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Lê Xuân Niên

2. Bà: Lương Thị Dân

- Thư ký phiên toà: Ông H Văn iên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện on Plông tỉnh on Tum

Ngày 22 tháng 8 năm 2018, tại Hội trường xét xử, trụ sở Toà án nhân dân huyện on Plông, tỉnh on Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2018/TLST - DS ngày 23 tháng 5 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/QĐXXST - DS ngày 02 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lương Thị H

Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi C m t .

- Bị đơn: Chị Võ Thị im A

Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện K, tỉnh on Tum C đơn xin xét xử vắng m t).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ng y 08 tháng 5 năm 2018, bản tự khai ng y 13 tháng 5 năm 2018 v trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lương Thị H trình b y như sau:

Chị Lương Thị H v chị Võ Thị im A l b con họ H, sau một thời gian chị Võ Thị im A tạo lòng tin đối với chị Lương Thị H trong năm 2017, sau đ chị Lương Thị H đã cho chị Võ Thị im A vay số tiền l 253.000.000 đồng Hai trăm năm mươi ba triệu đồng , số lần cho vay cụ thể như sau:

Lần thứ nhất khoảng tháng 7 năm 2017 chị H cho chị A mượn số tiền l 53.000.000 đồng Năm mươi ba triệu đồng , lần thứ hai khoảng tháng 8 năm 2017 chị H cho chị Amượn số tiền l 100.000.000 đồng Một trăm triệu đồng , đến, lần thứ ba v o ng y 15/9/2018 chị H cho chị Avay số tiền l 100.000.000 đồng Một trăm triệu đồng , bằng hình thức chuyển khoản qua t i khoản Ngân hàng, mục đích chị A vay l để l m nh , khi vay tiền chị Võ Thị im A n i sẽ bán nh cũ để trả nợ cho chị H. Thế nhưng, mãi đến nay khi nh mới ho n th nh v o khoảng cuối năm 2017, gia đình chị Võ Thị im A đã ở ổn định trong căn nh mới nhưng nhiều lần khi chị H đến đòi nợ chị Avẫn cố tình hứa hẹn, tránh né việc trả nợ và không chịu nghe điện thoại của chị H. Chị Lương Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Võ Thị im A phải trả cho chị H số tiền l 253.000.000 đồng Hai trăm năm mươi ba triệu đồng .

Về phía bị đơn chị Võ Thị im A: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã trực tiếp tống đạt Thông báo thụ lý vụ án đến bị đơn, tại bản tự khai v trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Võ Thị im A thừa nhận l c vay của chị Lương Thị H số tiền l 253.000.000 đồng Hai trăm năm mươi ba triệu đồng để l m nh mới, v hẹn khi n o bán được nh cũ thì sẽ trả hết số nợ nêu trên cho chị H, nhưng vì điều kiện kinh tế kh khăn nên chưa thể trả ngay số nợ nêu trên cho chị H được. Trong quá trình hòa giải bị đơn Võ Thị im A đề nghị được trả một tháng l 3.000.000 đồng Ba triệu đồng cho đến khi trả hết số nợ nêu trên, nguyên đơn chị Lương Thị H không đồng ý với đề nghị của bị đơn Võ Thị im A. Tại phiên tòa bị đơn chị Võ Thị im A không c m t tham gia phiên tòa v c đơn đề nghị Hội đồng xét xử vắng m t.

Vì vậy, tại các buổi hòa giải các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết to n bộ nội dung vụ án, nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các t i liệu c trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và trên cơ sở ý kiến của nguyên đơn chị Lương Thị H v bị đơn Võ Thị im A tại phiên toà và kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về phần thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 3 Điều 26, 35 v Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; tranh chấp giữa các đương sự l tranh chấp về giao dịch dân sự, quan hệ pháp luật phải giải quyết “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án l đúng quy định của pháp luật dân sự.

. Việc bị đơn chị Võ Thị im A c mượn số tiền 253.000.000 đồng Hai trăm năm mươi ba triệu đồng của nguyên đơn Lương Thị H để làm nhà l đúng sự thật. Bởi lẽ, nguyên đơn đã cung cấp giấy mượn tiền c chữ viết v chữ ký của bị đơn. Bị đơn thừa nhận đúng chữ viết, chữ ký của mình v công nhận nợ, việc các bên đương sự c xác lập văn bản ghi nội dung hẹn trả nợ c trong hồ sơ vụ án l ho n to n đúng pháp luật, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải trả số tiền nợ l c căn cứ v cần được chấp nhận. Tại phiên to nguyên đơn chị Lương Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn chị Võ Thị im A phải trả số tiền l 253.000.000 đồng Hai trăm năm mươi ba triệu đồng .

. Về phía bị đơn chị Võ Thị im A công nhận nợ v chấp nhận trả cho nguyên đơn số tiền nợ l 253.000.000 đồng Hai trăm năm mươi ba triệu đồng , nhưng vì ho n cảnh kinh tế kh khăn, bị đơn chưa thể trả ngay được, m hẹn đến ng y 15/11/2017 sẽ trả hết số tiền n i trên cho nguyên đơn. Trong quá trình hòa giải bị đơn đề nghị được trả một tháng l 3.000.000 đồng Ba triệu đồng cho đến khi trả hết số nợ n i trên, xét lời trình bày của bị đơn về phương thức trả nợ v thời gian trả nợ cho nguyên đơn số tiền n i trên. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của bị đơn không được nguyên đơn chấp nhận, tức là việc các đương sự không thoả thuận được với nhau về phương thức v thời gian trả nợ. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bị đơn.

. Từ những nhận định trên: Hội đồng xét xử c cơ sở khẳng định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền là 253.000.000 đồng Hai trăm năm mươi ba triệu đồng , vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lương Thị H.

. Áp dụng các Điều 280, Điều 463; 466 của Bộ luật dân sự buộc bị đơn chị Võ Thị im A phải trả cho nguyên đơn chị Lương Thị H số tiền là: 253.000.000 đồng Hai trăm năm mươi ba triệu đồng .

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm của số tiền phải trả, tính được là 253.000.000 đồng x 5% = 12.650.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Nguyên đơn chị Lương Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 280, 463, 466 của Bộ luật dân sự.

Xử:

[1]. Chấp nhận to n bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lương Thị H đề ngày 08 tháng 5 năm 2018.

Buộc bị đơn chị Võ Thị im A phải trả cho nguyên đơn chị Lương Thị H số tiền l : 253.000.000 đồng Hai trăm năm mươi ba triệu đồng .

Áp dụng Điều 357 Bộ luật dân sự: ể từ ng y Bản án c hiệu lực pháp luật, chị Lương Thị H c đơn yêu cầu thi h nh án, nếu bị đơn chị Võ Thị im A không thực hiện ho c chậm thực hiện trả số tiền nêu trên, thì phải trả tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân h ng Nh nước công bố tương ứng với thời gian v số tiền chậm trả tại thời điểm thi h nh án.

[2]. Về án phí dân sự sơ thẩm.

Áp dụng Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 3; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thườngvụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.

[3]. Buộc bị đơn chị Võ Thị im A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 12.650.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) để nộp v o Ngân sách Nh Nước. Nguyên đơn chị Lương Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho chị Lương Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.325.000 đồng (Sáu triệu ba trăm hai mươi năm nghìn đồng) theo biên lai số: AA/2010/0006475 ngày 21 tháng 5 năm 2018 của Chi cục Thi h nh án dân sự huyện on Plông tỉnh Kon Tum.

[4]. Áp dụng Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án n y trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án. Đối với bị đơn vắng m t tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ng y họ nhận được bản án ho c bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ