vanban.org

Bản án 01/2018/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Kon Tum Tuyên án 30/01/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/01/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không ch p nhận kháng cáo của nguyên đơn b Trương Thị Kim T và bị đơn b Nguy n Thị V đối với bản án dân sự sơ thẩm số 05/2017/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của To án nhân dân huyện Đắk H .

Xử: Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 05/2017/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của To án nhân dân huyện Đắk H . uộc b Nguy n Thị V (tên gọi khác: Nguyễn Thị Kim V) phải trả cho b Trương Thị Kim T (Tên gọi khác: Trương Thị Kim L hoặc A) t ng số tiền gốc là 119.000.000 đồng (Một trăm mười chín triệu đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Không ch p nhận kháng cáo của nguyên đơn b Trương Thị Kim T và bị đơn b Nguy n Thị V đối với bản án dân sự sơ thẩm số 05/2017/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của To án nhân dân huyện Đắk H .
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ản án số: 01/2018/DS-PT
Ngày: 30/01/2018
V/v: Tranh ch p hợp đồng vay
t i sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

- Thành ph n H i đ ng x t x phúc th m g m có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lý Thành Lê.

Các Thẩm phán:

Ông Trần Năm;

Ông Huỳnh Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Trường Thọ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum: Ông Lê Văn Việt - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ng y 30 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 27/2017/TLPT-DS ng y 06 tháng 11 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2017/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Đắk H bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 01/2018/QĐ-PT ngày 03 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Trương Thị Kim T (Tên gọi khác: Trương Thị Kim L ho c A), sinh năm 1958 (Có m t).

Địa chỉ: Thôn 12, x Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

Bị đơn: Nguy n Thị V (Tên gọi khác: Nguy n Thị Kim V), sinh năm 1964 (Có m t).

Địa chỉ: T dân phố 4A, thị tr n Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phạm Hữu H, sinh năm 1958 (Có đơn xin xét xử vắng m t).

2. Ông Trần Văn G, sinh năm 1952 (Có đơn xin xét xử vắng m t).

3. Anh Trần Văn C, sinh năm 1978 (Có đơn xin xét xử vắng m t).

C ng địa chỉ: Thôn 12, x Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

Người làm chứng:

Anh Lê Đình L, sinh năm 1970 (Vắng m t).

Địa chỉ: Công an thị tr n Đ.

Anh Ho ng Công V, sinh năm 1987 (Có đơn xin xét xử vắng m t).

Địa chỉ: Công an x Đ, huyện Đ. Vắng m t.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Theo như án sơ thẩm thì trong đơn khởi kiện, các bản tự khai, đơn rút một phần đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trương Thị Kim T trình bày:

Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2010 đến tháng 01/2011 b Nguy n Thị V nhiều lần đến vay với t ng số tiền l 145.000.000 đồng, mỗi lần vay tiền bà V đều viết, ký tên v o gi y nhận nợ, khi vay các bên có thỏa thuận với nhau thời hạn trả gốc v l i nhưng không ghi l i su t l bao nhiêu v o gi y vay tiền, m chỉ thỏa thuận miệng l i su t 2%/ tháng. Thể hiện qua 11 gi y nhận nợ của bà V, b T gửi kèm với đơn khởi kiện, cụ thể các lần vay như sau: Ngày 20/5/2010, ngày 30/5/2010, ngày 10/6/2010, ngày 21/8/2010 và ngày 11/9/2010 mỗi lần vay 10.000.000 đồng; ng y 21/7/2010 ông Trần Văn G (chồng bà T) cho vay 5.000.000 đồng; ngày 08/8/2010 vay 39.000.000 đồng; ngày 14/11/2010 vay 30.000.000 đồng v thế ch p một gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t (GCNQSDĐ) mang tên Phạm Hữu H; ng y 26/01/2011 vay 15.000.000 đồng. Riêng hai lần vay ghi trên tờ gi y v ng không đề tên người vay tiền, chỉ ghi ng y 14/11/2010 còn nợ chị 05 triệu v ghi em còn nợ 01 triệu không đề ng y vay tiền. Tại đơn khởi kiện b sung, b T yêu cầu tính l i su t 2%/ tháng đối với số tiền 134.000.000 đồng từ ng y 14/11/2010 đến ng y 14/11/2016 với số tiền lãi phát sinh là 192.960.000 đồng, còn 11.000.000 đồng b T không yêu cầu tính l i. Đến ng y 06/7/2017 bà T l m đơn rút một phần đơn khởi kiện đối với số tiền 11.000.000 đồng, trong ba lần vay: Số tiền 05 triệu m ông Trần Văn G cho bà Nguy n Thị V vay đề ng y 21/7/2010 v hai lần vay ghi trên tờ gi y m u v ng không đề tên người vay tiền, m chỉ ghi ng y 14/11/2010 còn nợ chị 05 triệu v ghi em con nợ 01 triệu không đề ng y. T vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc b Nguy n Thị V phải trả số tiền gốc 134.000.000 đồng v số tiền l i phát sinh với l i su t 2%/ tháng tính từ lần vay 14/11/2010 cho đến khi Tòa án giải quyết xong.

* Tại các bản ý kiến, biên bản kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, phiên hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị V trình bày:

Bà (V) thừa nhận đ nhiều lần vay tiền của nguyên đơn b Trương Thị Kim T để lo việc học h nh v xin việc l m cho con, mỗi lần vay tiền đều viết v ký tên v o gi y nhận nợ. Bà cũng công nhận chữ viết, chữ ký trong các gi y vay tiền m b T cung c p cho Tòa án l của mình. Nhưng hiện tại bà không còn nợ bà T khoản tiền n o nữa, nên không đồng ý trả số tiền nợ 134.000.000 đồng v tiền l i phát sinh cho nguyên đơn. Tại vì bà đ thanh toán hết các khoản tiền gốc và lãi phát sinh cho bà T, vậy nên b T mới trả lại GCNQSDĐ mang tên Phạm Hữu H; còn khoản nợ 30.000.000 đồng v tiền l i hai bên đ thỏa thuận l y t i sản để c n trừ hết nợ, được Công an x Đ l m việc lập biên bản cam kết, hai bên đều ký v o biên bản thỏa thuận trả xong v đề nghị Tòa án xác minh, thu thập t i liệu chứng cứ đối với anh Ho ng Công V, anh Lê Đình L làm tại Công an xã Đ, ông Phạm Hữu H v anh Trần Văn C c ng ở tại Thôn 12, x Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

Nguyên đơn b T có đơn rút một phần đơn khởi kiện đối với khoản tiền vay 11.000.000 đồng (Trong đó có 5.000.000 đồng vay của ông Trần Văn G vào ng y 21/7/2010 v hai lần vay ghi trên tờ gi y m u v ng không đề tên người vay, người cho vay tiền, chỉ ghi ng y 14/11/2010 số tiền 05 triệu v 01 triệu không đề ng y vay tiền) bà không có ý kiến gì.

Trong quá trình giải quyết vụ án v tại phiên tòa bị đơn không đưa ra được t i liệu, chứng cứ để chứng mình lời khai của mình l có cơ sở mà trình b y rằng mỗi lần b V trả xong tiền nợ b T đều viết gi y đ nhận tiền trả nợ nên không l y v xé gi y vay tiền. Do b V chuyển chỗ ở nhiều lần, thời gian đ lâu các t i liệu, chứng cứ n y đều đ bị th t lạc, nên không cung c p được cho Tòa án.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Phạm Hữu H trình b y thể hiện trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên tòa: Trước năm 2012 b V l vợ của ông (H), sau đó hai bên đ ly hôn nhau. Giữa b V và bà T vay mượn tiền như thế n o thì ông (H) không biết. Vào khoảng trước năm 2012 b T có v o nh l y t i sản để cần trừ nợ v được Công an x Đ l m việc, lập biên bản, còn với nội dung gì thì ông không biết. Đối với việc b V l y GCNQSDĐ mang tên Phạm Hữu H mà ông để trong tủ, b V tự ý l y đi thế ch p vay 30.000.000 đồng từ b T theo gi y vay tiền ng y 14/11/2010 ông không biết. Ông khai được ông Lê Đình L nguyên trưởng Công an x Đ trả cho ông GCNQSDĐ, còn vì sao bà T đưa ông L thì tôi không biết.

Ông Trần Văn G trình b y được thể hiện trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên tòa: T l vợ của ông (G), nguyên đơn rút một phần đơn khởi khởi kiện đối với số tiền 5.000.000 đồng m ông cho bà V vay đề ng y 14/11/2010. Ông (G) không có ý kiến gì v cũng không có yêu cầu độc lập đối với khoản tiền n y.

Anh Trần Văn C trình b y được thể hiện trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên tòa: Anh là con đẻ của b Trương Thị Kim T. V o khoảng năm 2012 có lần Công an x Đ mời b T và bà V lên l m việc, anh C có đến xem một lúc nhưng vì không có liên quan v đ ra ở riêng từ lâu nên anh đi về, còn việc c n trừ t i sản để trả nợ như thế n o thì không biết.

* Người làm chứng: Anh Hoàng Công V trình b y: V o năm 2012 khi anh (V) đang l m nhiệm vụ, anh có g p b V đang đưa t i sản lên xe ô tô, còn b T thì ngăn cản nên tôi yêu cầu hai người đem t i sản về Công an x Đ để l m việc. Nhưng khi anh quay về Công an x thì không th y ai m chỉ th y t i sản đang ở đó. Còn sự việc giải quyết như thế n o thì anh không biết.

Anh Lê Đình L trình bày: Khi đang còn l m tại Công an x Đ anh L th y bà T và bà V chở t i sản đến nên yêu cầu hai bên tự thỏa thuận với nhau để chở t i sản về. Còn việc hai bên thỏa thuận như thế n o thì không biết v anh cũng không lập biên bản thỏa thuận c n trừ nợ n o giữa b V và bà T.

Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2017/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Đắk Hà xử:

Căn cứ khoản 3 điều 26, Điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 của ộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 688, khoản 2 Điều 357 của ộ luật dân sự năm 2015; Điều 471; Điều 474 của ộ luật dân sự năm 2005.

Tuyên xử:

1. Ch p nhận một phần đơn khởi kiện ng y 31/10/2016; sửa đ i b sung đơn khởi kiện ng y 14/11/2016 v đơn xin rút một phần đơn khởi kiện ng y 06/7/2017 của b Trương Thị Kim T (tên gọi khác: Trương Thị Kim L hoặc A).

uộc b Nguy n Thị V (tên gọi khác: Nguyễn Thị Kim V) phải trả cho b Trương Thị Kim T t ng số tiền gốc l 119.000.000 đồng (Một trăm mười chín triệu đồng). theo các gi y vay tiền đề ng y 20/5/2010; 30/5/2010; 10/6/2010; 21/8/2010; 11/9/2010; 08/8/2010; 14/11/2010.

Không ch p nhận khoản vay theo gi y vay ng y 26/01/2011 l 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).

Không xem xét yêu cầu tính l i su t đối với số tiền vay l 134.000.000 đồng của nguyên đơn b Trương Thị Kim T.

Đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần yêu cầu đ rút của b Trương Thị Kim T l 11.000.000 đ (Trong đó có 5.000.000 đ vay của ông Trần Văn G vào ng y 21/7/2010 v hai lần vay ghi trên tờ gi y m u v ng không đề tên người vay, người cho vay tiền, chỉ ghi ng y 14/11/2010 số tiền 5.000.000đ v 1.000.000đ không đề ng y vay tiền).

Tuyên bị đơn phải trả l i phát sinh khi chậm thi h nh án; bị đơn phải nộp 5.950.000 đồng (năm triệu, chín trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn phải nộp 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự đối với phần không được Tòa án ch p nhận, kh u trừ v o số tiền tạm ứng án phí m nguyên đơn đ nộp l 8.449.000 đồng, nguyên đơn được nhận lại số tiền 7.699.000 (bảy triệu, sáu trăm chín mươi chín ngàn đồng).

Tuyên quyền kháng cáo cho đương sự v quyền, nghĩa vụ thi h nh án theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/10/2017, bị đơn kháng cáo to n bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 11/10/2017, nguyên đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về số tiền nợ gốc v phần l i phát sinh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa, bị đơn b Nguy n Thị V vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo; nguyên đơn b Trương Thị Kim T chỉ rút một phần kháng cáo không yêu cầu tính l i đối với số tiền 134.000.000 đồng nhưng không rút đơn khởi kiện. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum có ý kiến: Thẩm phán v HĐXX, các đương sự thực hiện đúng các quy định của ộ luật tố tụng dân sự nhưng do nhận thức pháp luật hạn chế nên khi tranh tụng đôi lúc đương sự chưa nghiêm túc; nguyên đơn v bị đơn kháng cáo đúng thời hạn, đúng chủ thể, đúng thủ tục. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm ch p nhận một phần đơn kháng cáo của nguyên đơn – b Trường Trị Kim T, không ch p nhận to n bộ đơn kháng cáo của bị đơn – b Nguy n Thị V; căn cứ khoản 1 Điều 308 ộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Hội đồng xét xử th y rằng:

Về tố tụng: Trên cơ sở 08 gi y vay tiền các ng y 20/5/2010, ng y 30/5/2010, ng y 10/6/2010, ng y 08/8/2010, ng y 21/8/2010, ng y 11/9/2010, ng y 14/11/2010 v ng y 26/01/2011, bản án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật n y l tranh ch p hợp đồng vay t i sản và căn cứ Điều 688 ộ luật dân sự năm 2015 áp dụng ộ luật dân sự 2005 để giải quyết, áp dụng ộ luật dân sự 2015 để xem xét về thời hiệu là chính xác. Tuy nhiên, c p sơ thẩm lại áp dụng khoản 2 Điều 357 của ộ luật dân sự năm 2015 l không đúng v cần phải rút kinh nghiệm trong việc áp dụng pháp luật.

Về nội dung kháng cáo:

Xét kháng cáo của nguyên đơn:

Về số tiền vay: Bà T yêu cầu bà V trả t ng cộng 134.000.000 đồng trên 08 lần vay. Để chứng minh cho yêu cầu của mình b T cung c p đến Tòa án 08 gi y vay tiền các ng y 20/5/2010, ng y 30/5/2010, ng y 10/6/2010, ng y 08/8/2010, ng y 21/8/2010, ng y 11/9/2010, ng y 14/11/2010 và ng y 26/01/2011.

Trong các gi y vay tiền trên thì gi y vay tiền ng y 26/01/2011 b V thừa nhận chữ viết v chữ ký của mình nhưng cho rằng không phải gi y viết để vay tiền b T m do b T nh t được để khởi kiện. Thực tế trên gi y vay tiền ng y 26/01/2011 không đề tên người vay là ai nên b T không có cơ sở để khởi kiện gi y vay n y, Tòa sơ thẩm không ch p nhận yêu cầu của b T đối với số tiền trên gi y vay n y l có cơ sở.

Về số tiền l i: Tại phiên tòa phúc thẩm, b T rút phần kháng cáo về l i nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 289, Điều 295 ộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm phần n y.

2 Xét kháng cáo của bị đơn:

Thứ nh t: Bà V kháng cáo không đồng ý trả số tiền 119.000.000 đồng cho bà T theo bản án sơ thẩm. Xét th y, trong 08 gi y vay tiền bà T xu t trình thì có 07 gi y vay tiền các ng y 20/5/2010, 30/5/2010, 10/6/2010, 08/8/2010, 21/8/2010, 11/9/2010, 14/11/2010 bị đơn V đều thừa nhận vay tiền của nguyên đơn T (riêng gi y vay tiền ng y 30/5/2010 b V thừa nhận vay tiền của b T nhưng ghi nhầm tên của con gái b T l Trương Thị Kim L. T t cả các gi y vay tiền n y b V đều thừa nhận do mình tự viết ra v ký tên bên dưới gi y vay tiền nhưng b V cho rằng b đ trả hết số tiền l i v gốc theo ng y hẹn trên gi y vay tiền cho bà T, khi trả hết cả gốc v l i thì b T mới tiếp tục cho b V vay các lần tiếp theo nhưng bà V không đưa ra được t i liệu, chứng cứ thể hiện l mình đ trả tiền cho b T. Hơn nữa, b V cho rằng việc vay nợ giữa b với b T đ được Công an x Đ giải quyết bằng việc c n trừ nợ bằng t i sản với b T nên bà V không còn nợ gì bà T nữa. L m rõ về nội dung n y, Tòa án sơ thẩm v phúc thẩm đ tiến h nh l y lời khai của các bên liên quan nhưng chỉ có b V khai có c n trừ còn ông H (chồng cũ của b V) khẳng định ông không biết việc c n trừ nợ như thế nào vì việc c n trừ nợ di n ra trong phòng chỉ có b T, bà V và anh L. Nhưng anh Lê Đình L l trưởng công an x Đ lúc đó bà V cho rằng anh là người giải quyết mâu thuẫn giữa b V và bà T nhưng anh chỉ nói với hai bên tài sản của ai thì đưa về còn tranh ch p thì đưa ra Tòa án giải quyết, việc hai b sau đó giải quyết với nhau như n o anh không biết, anh khẳng định không có việc c n trừ nợ như b V trình bày nên không có biên bản c n trừ nợ để cung c p cho Tòa án. C p phúc thẩm đ tiến h nh đối ch t v o ng y 27/12/2017 nhưng không tiến h nh được. Vì vậy, Tòa án xét th y không có căn cứ xác thực về việc c n trừ nợ như lời trình b y của b V.

Đối với số tiền vay 30.000.000 đồng ng y 14/11/2010 hai bên có “thế ch p” 01 gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mang tên ông Phạm Hữu H, hẹn đến cuối năm trả. Bà V cho rằng đ trả đủ tiền nợ nên bà T mới trả lại gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho bà V nhưng khi Tòa án l m rõ về nội dung này thì các bên trình bày mâu thuẫn với nhau. Bà T cho rằng khi b V bỏ đi ông H xin lại gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t từ b T; ông H cho rằng gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t là do bà T đưa cho ông L, ông L đưa lại cho ông H nhưng ông L phủ nhận điều n y. Hơn nữa, gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t n y b T nhận khi cho b V vay 30.000.000 đồng (không phải của b V) chỉ để l m tin, còn việc giao dịch giữa hai người để vay 30.000.000 đồng thông qua gi y vay m bà T xu t trình l m chứng cứ để đòi nợ được b V thừa nhận về nội dung v chữ ký của mình. Nếu có việc trả tiền thì gi y n y không còn tồn tại. Do đó, có căn cứ để xem xét yêu cầu của bà T đối với khoản vay n y.

Thứ hai: V kháng cáo cho rằng ông H phải có trách nhiệm c ng với b trả nợ. Xét th y nội dung n y mâu thuẫn với nội dung kháng cáo không đồng ý trả tiền của b V cho bà T vì bà không còn nợ nữa, nhưng lại yêu cầu ông H có nghĩa vụ c ng b trả nợ cho b T l thế n o? Trong khi ông không tham gia, không cùng bà V ký gi y nhận nợ của b T. Ông Hán cho rằng không liên quan đến khoản nợ của b V với b T, việc vay nợ ng y 14/11/2010 có thế ch p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mang tên ông H nhưng ông H không biết việc này cho rằng b V tự ý l y gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của ông đưa cho bà T. Bà T cho rằng không biết ông H có biết việc vay nợ giữa b V với bà T hay không. Hơn nữa trong quá trình giải quyết ly hôn b V cũng thừa nhận giữa b với ông H không có nợ chung. Khi giải quyết ly hôn, bà V cũng không kháng cáo và không có ý kiến gì với bản án ly hôn. Vì vậy, b V kháng cáo cho rằng ông H phải có trách nhiệm trả nợ c ng với b V l không có cơ sở.

Từ những phân tích trên khẳng định kháng cáo của nguyên đơn b Trương Thị Kim T và bị đơn b Nguy n Thị V l không có căn cứ để ch p nhận.

Về án phí: Theo quy định của pháp luật, nguyên đơn b Trương Thị Kim T v bị đơn b Nguy n Thị V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm v án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308, điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244, điểm c khoản 1 Điều 289, Điều 295 ộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

1. Không ch p nhận kháng cáo của nguyên đơn b Trương Thị Kim T và bị đơn b Nguy n Thị V đối với bản án dân sự sơ thẩm số 05/2017/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của To án nhân dân huyện Đắk H .

Áp dụng khoản 2 điều 305, 471, 474 của ộ luật dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 155, Điều 429, Điều 688 ộ luật dân sự năm 2015

Xử: Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 05/2017/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của To án nhân dân huyện Đắk H .

uộc b Nguy n Thị V (tên gọi khác: Nguyễn Thị Kim V) phải trả cho b Trương Thị Kim T (Tên gọi khác: Trương Thị Kim L hoặc A) t ng số tiền gốc là 119.000.000 đồng (Một trăm mười chín triệu đồng).

Không ch p nhận khoản tiền theo gi y vay ng y 26/01/2011 l 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Đình chỉ xét xử phúc thẩm về yêu cầu tính l i su t đối với số tiền vay l 134.000.000 đồng của nguyên đơn b Trương Thị Kim T.

Đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần yêu cầu đ rút của b Trương Thị Kim T l 11.000.000 đồng (Trong đó có 5.000.000 đồng vay của ông Trần Văn G v o ng y 21/7/2010 v hai lần vay ghi trên tờ gi y m u v ng không đề tên người vay, người cho vay tiền, chỉ ghi ng y 14/11/2010 số tiền 5.000.000 đồng và 1.000.000 đồng không đề ng y vay tiền).

Kể từ ng y án có hiệu lực pháp luật, b Trương Thị Kim T có đơn yêu cầu thi h nh án m b Nguy n Thị V không trả khoản tiền trên thì phải trả l i đối với số tiền chậm thi h nh án đối với khoản tiền vay, tương ứng thời gian chậm trả.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148 của ộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 4 Điều 18, điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 4 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH12 ng y 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 24, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban h nh kèm theo Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Nguy n Thị V phải nộp 5.950.000 đồng (Năm triệu, chín trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ v o số tiền tạm ứng án phí đ nộp 300.000 đồng đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2010/ 0009283 ngày 20 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Đắk H . Nguy n Thị V còn phải nộp số tiền 5.950.000 đồng (Năm triệu, chín trăm năm mươi nghìn đồng).

Trương Thị Kim T phải nộp 750.000 đồng tiền án phí dân sự đối với phần không được Tòa án ch p nhận và 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, nhưng kh u trừ v o số tiền tạm ứng án phí m b T đ nộp l 8.449.000 đồng theo biên lai số: AA/2010/0009133 ngày 16/11/2016 và số tiền tạm ứng án phí đ nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2010/ 0009281 ngày 19 tháng 10 năm 2017 tại Chi cục thi h nh án dân sự huyện Đăk H , tỉnh Kon Tum. Trương Thị Kim T được nhận lại số tiền 7.399.000 đồng (Bảy triệu, ba trăm chín mươi chín nghìn đồng).

Trường hợp bản án n y được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án, người phải thi h nh án có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án ho c bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6, 7 v 9 Luật Thi h nh án dân sự. Thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h nh án dân sự.

3. ản án có hiệu lực pháp luật kể từ ng y tuyên án (30/01/2018).

Cỡ chữ