vanban.org

Quyết định số 2503/QĐ-UBND Ban hành Quy định trách nhiệm của các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý chuyên ngành trong việc tạo điều kiện để các cấp Hội Nông dân Việt Nam hoạt động có hiệu quả

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 04/01/2016 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 14/QĐ-UBND · 04/01/2016
Đắk Lắk Ban hành 27/10/1998 Hiệu lực 11/11/1998 Hết hiệu lực toàn bộ
Từng phần
Hết hiệu lực toàn bộ từ 04/01/2016 — Văn thư vanban.org

QUYẾT ĐỊNH

của UBND tỉnh DakLak số 2503 ngày 27/10/1998 về việc ban hành qui định trách nhiệm của các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý chuyên ngành trong việc tạo điều kiện để các cấp Hội Nông dân Việt Nam hoạt động có hiệu quả

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH DAKLAK

- Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1994;

- Căn cứ Quyết định số 17/1998/QĐ-TTg ngày 24/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ “Về qui định trách nhiệm của các Bộ, các cấp chính quyền trong việc tạo điều kiện để các cấp Hội Nông dân Việt Nam hoạt động có hiệu quả”;

- Theo đề nghị của Ban Thường vụ Hội Nông dân Việt Nam tỉnh và Chánh Văn phòng UBND tỉnh;

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này bản "Qui định trách nhiệm của các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý chuyên ngành trong việc tạo điều kiện để các cấp Hội Nông dân Việt Nam hoạt động có hiệu quả".

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.

Điều 3. Các ông Chánh văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Giám đốc các sở, ban, ngành thuộc tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH DAKLAK

CHỦ TỊCH

(đã ký)

Nguyễn Bá Anh

QUY ĐỊNH

VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CẤP CHÍNH QUYỀN, CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH TRONG VIỆC TẠO ĐIỀU KIỆN ĐỂ CÁC CẤP HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM TRONG TỈNH HOẠT ĐỘNG CÓ HIỆU QUẢ

(Ban hành kèm theo Quyết định số 2583/1998/QĐ-UB ngày 27/10/1998)

Điều 1. Mối quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý chuyên ngành trong tỉnh (sau đây gọi chung là các cơ quan Nhà nước) với Hội Nông dân các cấp được thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau đây:

1) Phát huy truyền thống cách mạng, vai trò, vị trí của giai cấp nông dân để tăng cường sự nhất trí cao về chính trị, tinh thần, hành động; tán thành và hưởng ứng thực hiện sự nghiệp đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Động viên nông dân nghiêm chỉnh thực hiện Hiến pháp, pháp luật, phát huy quyền và nghĩa vụ công dân trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa; thi đua thực hiện các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

2) Tham gia xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực, thực sự là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.

3) Chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của giai cấp nông dân nói chung và hội viên nông dân nói riêng.

4) Chính quyền các cấp, các cơ quan Nhà nước trong tỉnh có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp Hội Nông dân thực hiện có hiệu quả về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội trong khuôn khổ pháp luật qui định.

Điều 2. Chính quyền các cấp, các cơ quan Nhà nước trong tỉnh khi xây dựng chủ trương, chính sách kế hoạch Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn hoặc khi giải quyết các vấn đề kinh tế- xã hội có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của nông dân, đến nhiệm vụ của Hội Nông dân phải có trách nhiệm thông báo và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các cấp Hội Nông dân tham gia ngay từ đầu.

Trong quá trình xây dựng và soạn thảo văn bản, nếu có ý kiến không thống nhất thì cơ quan chủ trì có trách nhiệm giải trình rõ những ý kiến khác nhau để cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Điều 3. Trong quá trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn nông thôn, liên quan đến nông dân và trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, các cấp chính quyền, các cơ quan Nhà nước trong tỉnh có trách nhiệm phối hợp với Hội Nông dân cùng cấp để tổ chức chỉ đạo và tạo điều kiện phát triển phong trào nông dân. Các cấp chính quyền, các cơ quan Nhà nước phải thường xuyên lắng nghe, xem xét giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của nông dân để kịp thời thay đổi, bổ sung, điều chỉnh các cơ chế chính sách cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống nhằm huy động mọi tiềm năng của nông dân vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh" trên địa bàn tỉnh.

Điều 4. Chính quyền các cấp, các cơ quan Nhà nước trong tỉnh có trách nhiệm mời đại diện Hội Nông dân cùng cấp tham gia các kỳ họp bàn giải quyết các vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích của nông dân và hoạt động của tổ chức Hội Nông dân.

Khi thành lập các tổ chức tư vấn về những vấn đề có liên quan đến nông dân, nông nghiệp nông thôn, chính quyền các cấp, các cơ quan Nhà nước trong tỉnh có trách nhiệm mời đại diện Hội Nông dân cùng cấp tham gia với tư cách là thành viên chính thức. Chủ tịch Hội Nông dân cùng cấp có trách nhiệm cử người đại diện có năng lực và thẩm quyền để tham gia các tổ chức tư vấn nói trên.

Điều 5. Để Hội Nông dân thực hiện tốt chức năng giám sát, kiểm tra việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chính quyền các cấp, các cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình kiểm tra, giám sát; khẩn trương xem xét, giải quyết và trả lời đối với những kiến nghị của Hội Nông dân theo đúng qui định của pháp luật.

Hội Nông dân các cấp được cử đại diện cùng tham gia các đoàn kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật và việc thực hiện các chính sách, chế độ có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của nông dân.

Điều 6. Chính quyền các cấp, các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành có trách nhiệm khẩn trương xem xét, giải quyết và trả lời những kiến nghị, những đơn thư tố cáo, khiếu nại của nông dân theo đúng qui định của pháp luật, tránh tình trạng đùn đẩy, giải quyết không dứt điểm, không thoả đáng hoặc kéo dài làm cho nông dân phải khiếu kiện, đi lại nhiều lần tốn phí thời gian và tiền bạc.

Trong trường hợp có đơn thư khiếu nại, tố cáo của nông dân đã được chính quyền các cấp, các cơ quan chức năng Nhà nước xem xét giải quyết nhưng Hội Nông dân còn có ý kiến khác hoặc chưa thoả đáng thì Chủ tịch Hội Nông dân có quyền kiến nghị hoặc trực tiếp gặp làm việc với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân để báo cáo đi đến thống nhất; khi đã thống nhất ý kiến, Chủ tịch Hội Nông dân có trách nhiệm thông báo, giải thích những vấn đề đó cho hội viên và nông dân.

Điều 7. Chính quyền các cấp trong tỉnh có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế phối hợp với Hội Nông dân cùng cấp về việc đảm bảo kinh phí hoạt động, phương tiện làm việc trên cơ sở kế hoạch được duyệt hàng năm để Hội thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình.

Điều 8. Thực hiện chế độ thông tin định kỳ giữa chính quyền các cấp, các cơ quan Nhà nước và các cấp Hội Nông dân .

1) Chính quyền các cấp, các cơ quan Nhà nước trong tỉnh có trách nhiệm thường xuyên và định kỳ cung cấp thông tin cho Hội Nông dân các cấp về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và chủ trương, chính sách, kết quả thực hiện các nhiệm vụ kinh tế- xã hội của địa phương.

Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Chủ tịch Hội Nông dân, chính quyền các cấp, các cơ quan chức năng Nhà nước cần cử người đại diện lãnh đạo đến tham gia Hội nghị Ban chấp hành Hội Nông dân cùng cấp để thông báo những vấn đề về chính sách, chế độ có liên quan trực tiếp quyền và lợi ích của nông dân.

2) Hội Nông dân các cấp có trách nhiệm định kỳ thông tin, báo cáo kịp thời về tình hình và kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của Hội, những tâm tư nguyện vọng của nông dân cho chính quyền cùng cấp biết.

Trong các cuộc họp định kỳ hoặc đột xuất của Hội, khi xét thấy cần thiết, Ban chấp hành Hội có thể mời đại diện chính quyền, các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan cùng cấp tham gia, đóng góp ý kiến.

Điều 9. Định kỳ 6 tháng một lần, chính quyền các cấp có kế hoạch làm việc với Hội Nông dân cùng cấp để bàn chương trình phối hợp hoạt động và giải quyết các vấn đề bức xúc của phong trào nông dân đặt ra. Khi có yêu cầu đột xuất, chính quyền và Hội Nông dân cùng cấp kịp thời phối hợp để xử lý.

Điều l0. Căn cứ Quy định này, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố, Giám đốc các sở, ban, ngành có trách nhiệm cùng với Hội Nông dân cùng cấp cụ thể hoá chương trình phối hợp nhằm đạt hiệu quả thiết thực.

Điều 11. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Hội Nông dân tỉnh có trách nhiệm theo dõi, tổng hợp và định kỳ báo cáo cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh về kết quả thi hành quy định này.

Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu có điều gì cần bổ sung, sửa đổi thì các cấp chính quyền và Hội Nông dân báo cáo, kiến nghị về Uỷ ban nhân dân tỉnh để xem xét giải quyết.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH DAKLAK

CHỦ TỊCH

(đã ký)

Nguyễn Bá Anh

Mục lục Bấm để đi tới điều