ỦY BAN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 19/2007/QĐ-UBND | Đông Hà, ngày 02 tháng 10 năm 2007 |
QUYẾT ĐỊNH
Về việc ban hành Đề án kiện toàn, củng cố tổ chức, bộ máy, biên chế của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Trị
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Trợ giúp pháp lý ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Chỉ thị số 35/2006/CT-TTg ngày 13 tháng 10 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc Triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp và Giám đốc Sở Nội vụ,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án kiện toàn, củng cố tổ chức, bộ máy, biên chế Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Trị.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký.
Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở: Tư pháp, Nội vụ, Tài chính, Xây dựng, Kế hoạch và Đầu tư, Thủ trưởng các cơ quan liên quan và Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
TM.ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
Lê Hữu Phúc
ĐỀ ÁN
KIỆN TOÀN, CỦNG CỐ TỔ CHỨC BỘ MÁY, BIÊN CHẾ
TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NHÀ NƯỚC TỈNH QUẢNG TRỊ
(Ban hành kèm theo Quyết định số:19/2007/QĐ-UBND
ngày 02 tháng 10 năm 2007 của UBND tỉnh)
I. THỰC TRẠNG VÀ SỰ CẦN THIẾT KIỆN TOÀN, CỦNG CỐ TỔ CHỨC, BỘ MÁY TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NHÀ NƯỚC TỈNH QUẢNG TRỊ
Quảng Trị là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Bắc miền Trung, có diện tích tự nhiên 4.745,7 km2 với 8 huyện và 02 thị xã; trong đó: Có 02 huyện miền núi và 01 huyện đảo, có 139 xã, phường, thị trấn; trong đó: Có 27 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn. Dân số 632.840 người, gồm 03 dân tộc chính sinh sống là dân tộc Kinh, dân tộc Vân Kiều, dân tộc Pakô. Do hậu quả của chiến tranh để lại nặng nề và lại thường xuyên phải đối chọi với sự khắc nghiệt của thiên tai, nên mặt bằng đời sống chung của tỉnh Quảng Trị còn thấp. Hiện nay, đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh khá lớn. Toàn tỉnh hiện có hơn 104.000 đối tượng chính sách; 1.479 đối tượng người già cô đơn, không nơi nương tựa; 666 đối tượng trẻ em mồ côi; 1.085 người tàn tật; 38.081 hộ nghèo; 11.446 hộ và 62.028 khẩu dân tộc thiểu số; trong đó: Có 8.884 hộ và 48.791 người dân tộc thiểu số cư trú ở các xã đặc biệt khó khăn.
Qua khảo sát cho thấy nhu cầu được giúp đỡ, trợ giúp về mặt pháp lý của người dân là rất lớn song vẫn chưa được đáp ứng, đặc biệt về lĩnh vực đại diện, bào chữa. Theo số liệu báo cáo, hàng năm ngành Tòa án tỉnh Quảng Trị đã thụ lý giải quyết và đưa ra xét xử hơn 1.000 vụ việc trong một năm, nhưng số vụ án có Luật sư tham gia chỉ đạt tỷ lệ rất thấp, hơn 10% (Năm 2006, ngành Tòa án đã xét xử 1.126 vụ việc nhưng số vụ án có sự tham gia của Luật sư để bào chữa, bảo vệ quyền lợi là 147 vụ, chiếm tỷ lệ 13%).
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Trị được thành lập theo Quyết định số 398/QĐ-UB ngày 02 tháng 5 năm 1998 của UBND tỉnh Quảng Trị. Trung tâm có chức năng trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách trên địa bàn tỉnh và tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng này. Trung tâm là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp, có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng. Biên chế và kinh phí hoạt động của Trung tâm do UBND tỉnh quyết định.
1. Tình hình về tổ chức
Từ ngày thành lập đến nay, biên chế của Trung tâm thường xuyên được bổ sung nên đã có các chức danh chuyên trách thay thế dần tình trạng kiêm nhiệm như ban đầu mới thành lập. Tuy nhiên, do yêu cầu của việc thực hiện cải cách hành chính, tinh giản biên chế nên số lượng biên chế của Trung tâm vẫn còn hạn chế. Trong khi đó, nhu cầu trợ giúp pháp lý tăng đều qua các năm, vụ việc trợ giúp pháp lý được thực hiện trong nhiều lĩnh vực như: Hình sự, dân sự, đất đai, hôn nhân gia đình, lao động và việc làm, chế độ, chính sách…; đòi hỏi phải có tính chuyên sâu; nhiều hoạt động chuyên môn nghiệp vụ được thực hiện ngoài trụ sở, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực. Hiện nay theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý, trợ giúp viên pháp lý còn có thêm nhiệm vụ đại diện, bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý (Trước đây chuyên viên trợ giúp pháp lý chỉ thực hiện tư vấn). Do vậy, rất khó khăn cho Trung tâm trong triển khai các nhiệm vụ hoạt động, các trợ giúp viên pháp lý không có điều kiện để chuyên môn hóa, am hiểu sâu sắc một lĩnh vực pháp luật mà cùng một lúc phải kiêm nhiệm nhiều công việc, hoạt động dàn trải trên nhiều lĩnh vực.
Thực trạng cơ cấu tổ chức Trung tâm là:
- Lãnh đạo: Giám đốc;
- Chuyên viên: 04 biên chế;
- Kế toán: 01 biên chế.
Tổng cộng: 06 biên chế.
Đội ngũ cộng tác viên, tổ trợ giúp pháp lý:
- Toàn tỉnh có 84 cộng tác viên gồm 24 người công tác ở các cơ quan cấp tỉnh, 05 luật sư, 55 người công tác tại các cơ quan cấp huyện, xã. Về trình độ, cộng tác viên cấp tỉnh và cấp huyện đều có trình độ cử nhân Luật, đối với cộng tác viên ở cấp xã trình độ Trung cấp Luật và có một số đã tốt nghiệp Đại học hoặc đang theo học chương trình Đại học Luật;
- 06 tổ trợ giúp pháp lý ở cấp huyện hoạt động chủ yếu là kiêm nhiệm;
Từ thực trạng trên và so với yêu cầu về tổ chức, cán bộ và yêu cầu nhiệm vụ khi thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý, biên chế của Trung tâm còn thiếu nhiều, cần được bổ sung thêm để củng cố, kiện toàn và tăng cường tổ chức, bộ máy của Trung tâm và các chi nhánh của Trung tâm tại một số huyện, thị xã.
2. Kết quả hoạt động trợ giúp pháp lý
Hơn 9 năm qua, tổ chức trợ giúp pháp lý đã thực hiện trợ giúp pháp lý được 7.527 vụ việc, cho hơn 9.193 lượt đối tượng.
a) Hoạt động tư vấn pháp luật
Đã thực hiện được 7.086 vụ việc, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực pháp luật như: Đất đai, nhà ở; chế độ chính sách ưu đãi đối với người có công; dân sự, hôn nhân gia đình; hình sự và một số lĩnh vực pháp luật khác;
b) Hoạt động đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền lợi trước Tòa án;
Trong những năm gần đây, hoạt động này được sự hỗ trợ của Dự án nâng cao năng lực hệ thống trợ giúp pháp lý tài trợ nên tổ chức trợ giúp pháp lý đã chủ động phối hợp với các cơ quan tố tụng tăng cường việc cử Luật sư cộng tác trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng để đại diện, bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đối tượng. Hàng năm thực hiện khoảng từ 95- 110 vụ việc;
c) Hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động
Nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về pháp luật của người dân ở cơ sở, hàng năm Trung tâm thực hiện từ 16- 25 đợt trợ giúp pháp lý lưu động tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Tại mỗi đợt thực hiện việc trợ giúp pháp lý lưu động lưu động Trung tâm đã trực tiếp tư vấn, hướng dẫn pháp luật cho khoảng 40 trường hợp.
3. Một số nhận xét, đánh giá trong tổ chức hoạt động của Trung tâm
Qua hơn 9 năm triển khai hoạt động, công tác Trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc đưa chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước vào cuộc sống. Thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý đã kịp thời tháo gỡ những vướng mắc pháp luật, giúp người dân bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng, đồng thời giảm thiểu những vụ việc khiếu kiện không đáng có trong nhân dân, góp phần cùng với chính quyền địa phương tạo được diễn đàn “Đối thoại” giữa chính quyền với nhân dân.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay trước yêu cầu của thực tiễn phát triển công tác trợ giúp pháp lý cũng như sự thay đổi của chính sách trợ giúp pháp lý, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức trợ giúp pháp lý được nâng cao và mở rộng, Trung tâm được giao thêm nhiệm vụ trực tiếp cử trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng, thực hiện việc đại diện ngoài tố tụng và các hình thức trợ giúp pháp lý khác theo yêu cầu của người được trợ giúp pháp lý; theo quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý, diện đối tượng được trợ giúp pháp lý cũng tăng lên. Như vậy, với những yêu cầu trên cho thấy, mô hình tổ chức và cán bộ của Trung tâm hiện nay đã thể hiện nhiều bất cập. Luật Trợ giúp pháp lý khẳng định, nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của nhà nước và còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Luật xác định nội dung quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, trong đó UBND tỉnh có trách nhiệm bảo đảm về tổ chức, cán bộ, kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc của tổ chức trợ giúp pháp lý.
Để giúp UBND tỉnh thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý nhà nước về công tác trợ giúp pháp lý, việc kiện toàn, củng cố tổ chức, bộ máy, biên chế Trung tâm trợ giúp pháp lý là hết sức cần thiết.
II. CĂN CỨ PHÁP LÝ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN KIỆN TOÀN, CỦNG CỐ TỔ CHỨC, BỘ MÁY TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
- Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26 tháng 11 năm 2003;
- Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007;
- Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý;
- Chỉ thị 35/2006/CT-TTg ngày 13 tháng 10 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc Triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý;
- Nghị định số 68/2003/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2003 về Thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp;
- Nghị định 112/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 Quy định cơ chế quản lý biên chế đối với đơn vị sự nghiệp của nhà nước;
- Quyết định số 08/2006/QĐ-BTP ngày 15 tháng 11 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch của ngành Tư pháp thực hiện Chỉ thị số 35/2006/CT-TTg ngày 13 tháng 10 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc Triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý;
- Kế hoạch số 507/KH-UBND ngày 09 tháng 3 năm 2007 của UBND tỉnh Quảng Trị về thực hiện Chỉ thị số 35/2006/CT-TTg ngày 13 tháng 10 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc Triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý.
III. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN
1. Khắc phục những hạn chế trong tổ chức bộ máy của Trung tâm, dự liệu nguồn cung đáp ứng nhu cầu trợ giúp pháp lý ngày càng tăng của nhân dân từ đó kiện toàn tổ chức và cán bộ, nhằm tăng cường năng lực và nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý ở địa phương cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đổi mới của đất nước.
2. Xác định rõ địa vị pháp lý, chức năng nhiệm vụ của Trung tâm và các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ của Trung tâm, Chi nhánh của Trung tâm, thực hiện phân cấp chức năng nhiệm vụ một cách phù hợp, bảo đảm hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
3. Xác định hợp lý về số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên cơ sở đó có quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng cho phù hợp với thực tiễn, yêu cầu chuyên môn và khối lượng công việc của đơn vị.
4. Nâng cao năng lực cán bộ làm nhiệm vụ quản lý và cán bộ, công chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ chuyên môn trong điều kiện mới, bảo đảm các lĩnh vực pháp luật đều có ít nhất một Trợ giúp viên pháp lý chuyên sâu.
IV. PHƯƠNG ÁN KIỆN TOÀN TỔ CHỨC BỘ MÁY, BIÊN CHÊ
1. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm
1.1.Vị trí, chức năng:
Trung tâm là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp, chịu sự quản lý nhà nước của Sở Tư pháp, UBND tỉnh; sự quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Tư pháp.
Trung tâm thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.
1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn:
Theo quy định tại Luật trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn thi hành, Trung tâm có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
1.2.1. Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch dài hạn và hàng năm của HĐND và UBND tỉnh, Trung tâm thực hiện việc xây dựng chương trình, kế hoạch trợ giúp pháp lý dài hạn và hàng năm ở địa phương trình Giám đốc Sở Tư pháp phê duyệt và tổ chức thực hiện các chương trình kế hoạch đó;
1.2.2.Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ và hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý, bao gồm:
- Thực hiện tư vấn pháp luật; cử Luật sư, trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và thực hiện các hình thức trợ giúp pháp lý khác;
- Thực hiện trợ giúp pháp lý lưu động và các hoạt động trợ giúp pháp lý khác; chịu trách nhiệm và phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công tác truyền thông về trợ giúp pháp lý cho nhân dân;
- Quản lý, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng trợ giúp pháp lý cho chi nhánh; hướng dẫn hoạt động đối với Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý và các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý khác;
- Tổ chức bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và quy tắc nghề nghiệp Trợ giúp pháp lý cho trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên pháp lý của Trung tâm và Chi nhánh; hỗ trợ bồi dưỡng nghiệp vụ cho tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;
- Tổ chức nghiên cứu, khảo sát, tổ chức hội thảo, tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý cho trợ giúp viên, cộng tác viên của Trung tâm và chi nhánh;
- Quản lý, theo dõi, kiểm tra hoạt động trợ giúp pháp lý của trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên và của các cán bộ khác của Trung tâm và Chi nhánh theo thẩm quyền;
1.2.3. Đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan phối hợp, cung cấp thông tin, tài liệu về vụ việc trợ giúp pháp lý; thực hiện chế độ bồi dưỡng đối với cộng tác viên tham gia trợ giúp pháp lý; phối hợp với các tổ chức trợ giúp pháp lý khác để xác minh vụ việc trợ giúp pháp lý;
1.2.4. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện trợ giúp pháp lý của trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên của Trung tâm và chi nhánh;
1.2.5. Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra khi thực hiện trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý;
1.2.6. Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật;
1.2.7. Thực hiện sơ kết, tổng kết chế độ báo cáo thống kê về tổ chức, hoạt động trợ giúp pháp lý ở địa phương;
1.2.8. Đề xuất việc khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác Trợ giúp pháp lý ở địa phương;
1.2.9. Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật đối với đơn vị sự nghiệp và quy định của UBND tỉnh.
2. Vị trí, chức năng nhiệm vụ các chi nhánh
2.1. Vị trí:
Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm, do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định thành lập, có con dấu để giao dịch, sử dụng cho hoạt động chuyên môn nghiệp vụ trợ giúp pháp lý.
Trung tâm trợ giúp pháp lý quản lý các chi nhánh và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của các chi nhánh;
2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn:
- Thực hiện tư vấn pháp luật đối với các vụ việc do người được trợ giúp pháp lý ở địa phương trực tiếp yêu cầu;
- Tham gia tố tụng đối với các vụ việc trợ giúp pháp lý thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan tố tụng cấp huyện;
- Thực hiện đại diện ngoài tố tụng đối với các vụ việc trợ giúp pháp lý có liên quan đến thẩm quyền giải quyết của các cơ quan, tổ chức cấp huyện;
- Thực hiện các hình thức trợ giúp pháp lý khác cho người được trợ giúp pháp lý như giúp đỡ hòa giải, thực hiện các công việc liên quan đến thủ tục hành chính ở địa phương;
- Tổ chức thực hiện các đợt trợ giúp pháp lý lưu động, tham gia sinh hoạt chuyên đề pháp luật, Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý theo kế hoạch của Trung tâm.
V. DỰ KIẾN CƠ CẤU TỔ CHỨC, BIÊN CHẾ
Căn cứ theo quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý, mô hình tổ chức bộ máy của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Trị cần thực hiện như sau:
- Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước;
- Chi nhánh của Trung tâm ở các huyện, thị xã.
1. Về cơ cấu tổ chức, biên chế và lộ trình thực hiện biên chế của Trung tâm
1.1. Về Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước
1.1.1.Về đội ngũ lãnh đạo: 02 người
- Giám đốc Trung tâm đồng thời là Trợ giúp viên pháp lý. Giám đốc phụ trách chung, quản lý cán bộ và xây dựng tổ chức;
- 01 Phó Giám đốc Trung tâm đồng thời là Trợ giúp viên pháp lý, phụ trách các lĩnh vực do Giám đốc phân công;
1.1.2. Đội ngũ Trợ giúp viên và cán bộ, nhân viên khác gồm:
- Các Trợ giúp viên pháp lý chuyên trách về lĩnh vực pháp luật hình sự, tố tụng hình sự; về pháp luật dân sự, tố tụng dân sự, thi hành án dân sự; về lĩnh vực pháp luật đất đai- nhà ở, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng; về pháp luật hành chính, khiếu nại- tố cáo và tố tụng hành chính; về pháp luật lao động, việc làm, bảo hiểm và pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng, pháp luật về chính sách ưu đãi xã hội khác; về pháp luật hôn nhân- gia đình, pháp luật về trẻ em; pháp luật về phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em; về các lĩnh vực pháp luật khác liên quan đến chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo hoặc liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân;
- Các chuyên viên trợ giúp pháp lý giúp việc chuyên môn nghiệp vụ, theo dõi quản lý các chi nhánh và cơ sở;
- 01 Kế toán và 01 nhân viên hợp đồng lao động (Lái xe);
1.2. Về chi nhánh của Trung tâm Trợ giúp pháp lý
Căn cứ nhu cầu và điều kiện thực tế của địa phương, sẽ thành lập 01 chi nhánh của Trung tâm Trợ giúp pháp lý ở huyện xa Trung tâm, đó là:
- Chi nhánh số 01- Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Trị tại huyện Hướng Hóa; trụ sở đặt tại Trung tâm huyện;
Về số lượng biên chế cụ thể của Trung tâm và các chi nhánh, tùy tình hình thực tế nhiệm vụ trợ giúp pháp lý hàng năm, Sở Nội vụ phối hợp với Sở Tư pháp trình UBND tỉnh quyết định;
1.3. Về các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ của Trung tâm
Căn cứ vào tình hình thực tế và khối lượng công việc trong từng lĩnh vực cụ thể, Giám đốc Sở Tư pháp phối hợp với Sở Nội vụ xây dựng trình UBND tỉnh quyết định các Ban chuyên môn thuộc Trung tâm bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ được giao. Bao gồm các ban sau:
- Ban Hành chính- Quản trị: Ban này thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Văn phòng, hành chính quản trị, kế toán, thủ quỹ, lái xe;
+ Quản lý các chi nhánh;
+ Quản lý cộng tác viên, Tổ trợ giúp pháp lý, Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý;
+ Thi đua- khen thưởng- kỷ luật;
+ Nghiệm thu, thanh toán và lưu trữ.
- Ban nghiệp vụ 1: Thực hiện nhiệm vụ trợ giúp pháp lý các lĩnh vực pháp luật:
+ Pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự;
+ Pháp luật dân sự, tố tụng dân sự và thi hành án dân sự;
+ Pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật về trẻ em;
+ Thẩm định kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý về các lĩnh vực này.
- Ban nghiệp vụ 2: Thực hiện nhiệm vụ trợ giúp pháp lý các lĩnh vực sau:
+ Pháp luật hành chính- khiếu nại, tố cáo và tố tụng hành chính;
+ Pháp luật lao động, việc làm, bảo hiểm xã hội và tố tụng lao động;
+ Pháp luật đất đai, nhà ở, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng;
+ Pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng, pháp luật chính sách ưu đãi xã hội khác;
+ Các lĩnh vực pháp luật khác liên quan đến chương trình mục tiêu quốc gia, xóa đói giảm nghèo hoặc liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân;
+ Thẩm định kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý các lĩnh vực này.
VI. VỀ CƠ SỞ VẬT CHẤT, TRANG THIẾT BỊ, PHƯƠNG TIỆN LÀM VIỆC CỦA TRUNG TÂM VÀ CÁC CHI NHÁNH
1. Về trụ sở của Trung tâm
Theo quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý, Trung tâm phải có trụ sở riêng, thuận tiện cho việc tiếp dân. Giám đốc Sở Tư pháp phối hợp với Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính lập Đề án xây dựng mới trụ sở cho Trung tâm tại địa điểm trụ sở hiện nay hoặc bố trí trụ sở khác theo hướng đảm bảo sử dụng thuận tiện và có đủ phòng làm việc, phòng tiếp dân, hội trường để tổ chức hội nghị, hội thảo cho toàn thể viên chức và cộng tác viên của Trung tâm.
2. Về trụ sở của chi nhánh
Các chi nhánh đặt tại huyện cần có trụ sở thuận tiện cho việc tiếp dân, thực hiện trợ giúp pháp lý, diện tích làm việc có thể tiếp từ 10- 15 người dân/lần.
3. Về trang thiết bị, phương tiện làm việc
Giám đốc Sở Tư pháp phối hợp với Sở Tài chính lập kế hoạch mua sắm các trang thiết bị, phương tiện làm việc của Trung tâm và các chi nhánh trình Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt.
VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1. Đối với Sở Tư pháp
- Tham mưu giúp UBND tỉnh quản lý về tổ chức, hoạt động của Trung tâm và chi nhánh, hoạt động tham gia trợ giúp pháp lý của các Văn phòng Luật sư, Công ty Luật, Trung tâm tư vấn pháp luật trên địa bàn tỉnh. Hướng dẫn, chỉ đạo phòng Tư pháp cấp huyện phối hợp trong các hoạt động trợ giúp pháp lý;
- Chủ trì phối hợp với Sở Nội vụ, UBND các huyện, thị xã xây dựng Đề án thành lập chi nhánh Trợ giúp pháp lý của Trung tâm đặt tại cấp huyện trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định thành lập;
- Có trách nhiệm theo dõi, định kỳ báo cáo UBND tỉnh và Bộ Tư pháp tình hình thực hiện việc kiện toàn, củng cố tổ chức và biên chế của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước.
2. Đối với Sở Nội vụ
Chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp tham mưu giúp UBND tỉnh lập kế hoạch bảo đảm biên chế hàng năm của Trung tâm và các chi nhánh theo lộ trình đã được phê duyệt tại Đề án để Chủ tịch UBND tỉnh trình HĐND tỉnh phê duyệt, bảo đảm đủ các biên chế cần thiết để Trung tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
3. Sở Kế hoạch và Đầu tư
- Chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp, Sở Xây dựng trình UBND tỉnh phê duyệt Đề án về trụ sở làm việc của Trung tâm và chi nhánh;
- Bố trí chỉ tiêu vốn xây dựng cơ bản cho Trung tâm trình UBND tỉnh phê duyệt.
4. Sở Tài chính
Chủ trì tham mưu đề xuất trang thiết bị, phương tiện làm việc và bảo đảm kinh phí chi thường xuyên hàng năm theo định mức cho Trung tâm và chi nhánh và kinh phí không thường xuyên chi cho hoạt động thuê cộng tác viên thực hiệc trợ giúp pháp lý và chi cho chính sách phát triển hoạt động trợ giúp pháp lý.
5. Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng
Đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng phối hợp với Sở Tư pháp tuyên truyền, giới thiệu cho người được trợ giúp pháp lý tiếp cận tổ chức trợ giúp pháp lý; tạo điều kiện để trợ giúp viên, Luật sư hoàn thành tốt nhiệm vụ trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý; cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho tổ chức trợ giúp pháp lý và tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý.
6. Thủ trưởng các cơ quan, ban, ngành, đơn vị
- Khuyến khích, tạo điều kiện cho các cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại cơ quan, tổ chức mình có đủ điều kiện tham gia làm cộng tác viên trợ giúp pháp lý;
- Trả lời các kiến nghị của tổ chức trợ giúp pháp lý trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị.
7. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên
- Đề nghị tích cực, chủ động tuyên truyền, giới thiệu pháp luật về trợ giúp pháp lý trong cán bộ, nhân dân;
- Giới thiệu người có đủ tiêu chuẩn tham gia làm cộng tác viên;
- Vận động và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức thành viên có tổ chức tư vấn pháp luật đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.
8. UBND cấp huyện và cấp xã
- Chỉ đạo Phòng Tư pháp, Ban Tư pháp phối hợp với tổ chức trợ giúp pháp lý trong việc tuyên truyền, giới thiệu về hoạt động trợ giúp pháp lý, phát triển mạng lưới cộng tác viên và các câu lạc bộ trợ giúp pháp lý ở cơ sở;
- Phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức trợ giúp pháp lý trong việc tổ chức hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động, tổ chức sinh hoạt chuyên đề;
- Bố trí phòng làm việc cho chi nhánh trợ giúp pháp lý đặt tại địa bàn./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
Lê Hữu Phúc