vanban.org

Quyết định số 123/QĐ-UB Về việc ban hành Quy định việc quản lý hoạt động dịch vụ pháp lý trên địa bàn thành phố.

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/06/2007
Hồ Chí Minh Ban hành 12/05/1988 Hiệu lực 12/05/1988 Hết hiệu lực toàn bộ
Từng phần
Hết hiệu lực toàn bộ từ 01/06/2007 — Văn thư vanban.org

ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 123/QĐ-UB

TP. Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 05 năm 1988

QUYẾT ĐỊNH

Về việc ban hành Quy định việc quản lý hoạt động dịch vụ pháp lý trên địa bàn thành phố

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đã được Quốc hội thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1983 ;

- Căn cứ Thông tư số 1119/QLTPK của Bộ Tư pháp ngày 24-12-1987 về công tác dịch vụ pháp lý ;

- Để thống nhất quản lý Nhà nước đối với tổ chức và hoạt động dịch vụ pháp lý trên địa bàn thành phố;

- Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp;

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. - Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản: “Quy định về việc quản lý hoạt động dịch vụ pháp lý trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”.

Điều 2. – Các đồng chí Chánh văn phòng UBND thành phố, Giám đốc Sở Tư pháp và thủ trưởng các cơ quan, tổ chức có liên quan, Chủ tịch UBND các quận, huyện có trách nhiệm thi hành quyết đinh này.

T/M ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ

K/T.Chủ tịch

Phó Chủ tịch

Đã ký: LÊ QUANG CHÁNH

QUY ĐỊNH

Quản lý hoạt động dịch vụ pháp lý

trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

(Ban hành kèm theo Quyết định số 123/QĐ-UB

ngày 12-5-1988 của UBND Thành phố)

I.- NGUYÊN TẮC CHUNG :

Điều 1.- Hoạt động dịch vụ pháp lý là hoạt động giúp đỡ về pháp lý cho nhân dân và các tổ chức kinh tế - xã hội nhằm bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của công dân, của tổ chức, ngăn ngừa và đấu tranh chống các vi phạm pháp luật, tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần thực hiện quản lý Nhà nước bằng pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Mọi tổ chức và hoạt động dịch vụ pháp lý phài có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền. Khi được phép hoạt động phải tuân theo các thể lệ trong bản quy định này.

Điều 2. - Cấm lợi dụng dịch vụ pháp lý để làm những việc có tính chất môi giới, xúi bậy kiện tụng, thu lợi bất chính, gây cản trở hoạt động của các cơ quan Nhà nước, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân.

Điều 3. - Ủy ban nhân dân thành phố giao cho Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh nhiệm vụ quản lý các hoạt động dịch vụ pháp lý trên địa bàn thành phố theo bản quy định này.

II.- TỔ CHỨC VÀ NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ :

Điều 4. - Chỉ có cơ quan Nhà nước, tổ chức đoàn thể xã hội từ cấp quận, huyện trở lên mới được phép tổ chức hoạt động dịch vụ pháp lý.

Tư nhân không được phép lập cơ sở dịch vụ pháp lý.

Tổ chức dịch vụ pháp lý được phép hoạt động, có con dấu riêng, tên gọi thống nhất theo hướng dẫn của Sở Tư Pháp.

Điều 5. – Nôi dung hoạt động dịch vụ pháp lý gồm có :

1) Tư vấn pháp luật cho công dân gồm các hình thức : hướng dẫn, giải đáp pháp luật trực tiếp hoặc bằng văn bản, làm đơn, cung cấp sao lục các văn bản pháp luật.

2) Tư vấn pháp luật cho các cơ quan, đơn vị, các tổ chức kinh tế gồm các công việc như : tư vấn về các vấn đề pháp lý trong các hoạt đông kinh tế, xã hội, tài chánh, quản lý xí nghiệp và các hoạt động cụ thể như ký kết hợp đồng kinh tế, giải quyết các tranh chấp hợp đồng kinh tế, góp ý kiến hoặc giúp xây dựng nội quy, quy chế cho các cơ quan tổ chức, tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong cơ quan, đơn vị, cung cấp văn bản, hướng dẫn pháp luật khi có yêu cầu.

Ngoài nội dung nói trên, dịch vụ pháp lý được phép có những hoạt động dịch vụ hỗ trợ như: đại lý sách báo pháp luật, dịch vụ hành chính: làm đơn, đánh máy, dịch thuật, photocopy.

Điều 6.- Tổ chức dịch vụ pháp lý không được thay mặt khách hàng (là công dân hoặc tổ chức) để tham gia các tố tụng có liên quan trước Tòa án, Viện kiểm sát, Công an hoặc các khiếu tố khác, nhưng có thể hướng dẫn đương sự hoặc đứng ra nhờ luật sư hoặc bào chữa viên giúp đỡ theo thủ tục, quy định hiện hành.

Tổ chức dịch vụ pháp lý chỉ được thay mặt đương sự để giải quyết trong một số công việc thuộc các thủ tục hành chánh, Sở Tư pháp có hướng dẫn cụ thể.

Cấm lợi dụng dịch vụ pháp lý để trục lợi, môi giới làm những việc trái pháp luật.

Điều 7. - Tổ chức dịch vụ pháp lý được thu tiền thù lao từ công dân và các tổ chức khi nhờ làm dịch vụ pháp lý. Mức thu do Ủy ban Vật giá thành phố và Sở Tư pháp quy định.

III.- ĐIỀU KIỆN VÀ THỦ TỤC XIN MỞ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ :

Điều 8. -

1. Nhũng người trực tiếp làm dịch vụ pháp lý phải có các điều kiện sau đây :

a) Có tư cách, đạo đức tốt, không can án, không bị pháp luật hay Tòa án tước một số quyền công dân hoặc cấm không hành nghề có liên quan đến pháp luật.

b) Đã tốt nghiệp Đại học pháp lý hoặc có kiến thức tương đương đại học pháp lý.

Người làm công việc hành chánh cho tổ chức hoạt động dịch vụ pháp lý, không nhất thiết phải có tiêu chuẩn về trình độ pháp lý nói trên.

2. Những cán bộ đang công tác ở Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Thanh tra, Trọng tài kinh tế, Công an, Hải quan, không được trực tiếp tham gia trong tổ chức dịch vụ pháp lý.

Điều 9. - Cơ quan, tổ chức, đoàn thể muốn mở cơ sở dịch vụ pháp lý phải có giấy phép hoạt động của Sở Tư pháp.

Hồ sơ xin phép hoạt động gồm :

- Đơn xin phép

- Đề án tổ chức và hoạt động của cơ sở.

- Ý kiến của Ủy ban nhân dân quận, huyện hoặc của Sở, ngành chủ quản.

- Danh sách và lý lịch trích ngang của những người tham gia hoạt động dịch vụ quản lý.

Điều 10. – Sở Tư pháp có thẩm quyền duyệt danh sách người làm dịch vụ pháp lý và cấp giấy phép hoạt động.

IV.- QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ :

Điều 11. - Tổ chức dịch vụ pháp lý được phép thành lập, có nhiệm vụ sau đây :

1. Hoạt động đúng nội dung được phép và đúng theo quy chế này.

2. Phục vụ tốt mọi yêu cầu tư vấn pháp lý cho nhân dân và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung công việc của cơ quan sở và của người tham gia trực tiếp trong cơ sở.

3. Thông qua hoạt động dịch vụ pháp lý, tuyên truyền và giáo dục pháp luật cho nhân dân.

4. Chấp hành các chế độ giá cả, tài chính đã được quy định.

5. Hàng tháng, quý, năm báo cáo tình hình và hoạt đông dịch vụ pháp lý cho Sở Tư pháp.

Tổ chức được phép hoạt động dịch vụ pháp lý có quyền :

1. Sắp xếp bố trí nhân sự trong nội bộ để điều hành hoạt động của cơ sở.

2. Được sử dụng số thù lao thu được để chi phí cho hoạt động cơ sở.

3. Được bồi dưỡng nghiệp vụ và cung cấp các tài liệu pháp luật cần thiết.

Điều 12. - Sở Tư pháp có trách nhiệm quản lý hoạt động dịch vụ trên địa bàn thành phố và có nhiệm vụ, quyền hạn :

- Xét duyệt nhân sự, đề án xin mở dịch vụ pháp lý, cấp giấy phép hoạt động.

- Kiểm tra, giám sát các tổ chức hoạt động dịch vụ pháp lý đúng theo quy chế. Có quyền tạm đình chỉ, thu hồi giấy phép đối với các tổ chức hoạt động dịch vụ pháp lý vi phạm pháp luật và quy chế.

- Hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ, cung cấp tài liệu pháp luật cần thiết cho các tổ chức hoạt động dịch vụ pháp lý.

Điều 13.- Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi có cơ sở dịch vụ pháp lý hoạt động, có trách nhiệm theo dõi hoạt động của các tổ chức dịch vụ được phép thành lập, và khi cần thiết phản ảnh tình hình đề nghị cách xử lý cho Sở Tư pháp. Tổ chức Tư pháp quận, huyện giúp Ủy ban nhân dân quận, huyện thực hiện nhiệm vụ này.

V.- ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH :

Điều 14.- Tổ chức được phép hoạt động dịch vụ, pháp lý vi phạm quy chế này tùy trường hợp, có thể bị xử lý : cảnh cáo, tạm đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép hoạt động. Người vi phạm là cán bộ, công nhân viên, còn có thể bị thi hành kỷ luật hành chánh.

Điều 15. - Sở Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn thi hành quy định này và phối hợp với Ủy ban Vật giá thành phố quy định mức thù lao thích hợp.

Định kỳ hàng tháng, quý, Sở Tư pháp báo cáo cho Thường trực Ủy ban nhân dân thành phố tình hình hoạt động các cơ sở dịch vụ pháp lý.

Điều 16. - Quy định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Các tổ chức dịch vụ pháp lý đang hoạt động phải lập thủ tục để được cấp giấy phép hoạt động theo quy định này.

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ

Mục lục Bấm để đi tới điều