vanban.org

Quyết định số 1218/QĐ-TCT Của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế số 1218/QĐ-TCT ngày 08 tháng 11 năm 2005 về việc phê duyệt đề án Đánh giá chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý thuế năm 2005 để thực hiện Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 08/11/2005 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Tổng cục Thuế Ban hành 08/11/2005 Hiệu lực 08/11/2005 Còn hiệu lực
Từng phần
Còn hiệu lực từ 08/11/2005 — Văn thư vanban.org

TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ

- Căn cứ Quyết định số 218/2003/QĐ-TTg ngày 28/10/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính;

- Căn cứ Quyết định số 189/2003/QĐ-BTC ngày 14/11/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thuế trực thuộc Tổng cục Thuế;

- Căn cứ Quyết định số 201/2004/QĐ-TTg ngày 6/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010;

- Căn cứ Quyết định số 1629/QĐ-BTC ngày 19/5/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010;

- Theo đề nghị của Trưởng Ban Tổ chức cán bộ, Trưởng Ban Hợp tác Quốc tế Tổng cục Thuế,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt đề án Đánh giá chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý thuế năm 2005 để thực hiện Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Trưởng Ban Tổ chức cán bộ, Trưởng Ban Hợp tác quốc tế và thủ trưởng các Ban. đơn vị tương đương thuộc Tổng cục thuế, Cục trưởng Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.

ĐỀ ÁN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ NĂM 2005 ĐỂ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH CẢI CÁCH VÀ HIỆN ĐẠI HOÁ HỆ THỐNG THUẾ GIAI ĐOẠN 2005-2010.

( Ban hành kèm theo Quyết định số1218 /QĐ-TCT ngày 08 tháng11 năm 2005 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế)

I/ SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ ÁN.

Những năm vừa qua, thực hiện đường lối đổi mới chính sách kinh tế của Đảng, Nhà nước, ngành Thuế đã không ngừng đổi mới, cải cách công tác quản lý thuế nhằm đáp ứng được sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước; nhờ vậy đã thu được nhiều thành quả đáng khích lệ: góp phần tạo ra sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước, làm đòn bẩy kinh tế tạo động lực khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, tăng thu cho Ngân sách Nhà nước v.v...

Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đã đạt được, công tác quản lý thuế cũng còn bộc lộ không ít những tồn tại, bất cập như: trình độ, năng lực quản lý còn chưa cao, kém hiệu quả; hệ thống công cụ, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý thuế còn lạc hậu; nhiều chính sách thuế còn chưa đồng bộ, công tác quản lý thuế chưa thực sự công khai, minh bạch v.v... Qua tổng kết, đánh giá, ngành Thuế đã chỉ ra rằng trình độ quản lý thuế của Việt Nam còn kém xa so với các nước trong khu vực về mọi mặt, chưa đáp ứng được với đòi hỏi trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta chuẩn bị gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn khách quan, ngành Thuế đã trình Chính phủ, Bộ Tài chính Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế giai đoạn 2005 - 2010. Kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 210/2004/QĐ-TTg ngày 06/12/200, và được Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành tại Quyết định số 1629/QĐ-BTC ngày 19/5/2005.

Trong Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế giai đoạn 2005 – 2010, ngành thuế đã đặt ra mục tiêu cải cách công tác quản lý thuế là: "nâng trình độ quản lý thuế của Việt nam ngang tầm với các nước trong khu vực, xây dựng ngành thuế Việt Nam tiên tiến, hiện đại và chuyên nghiệp nhằm đảm bảo thực thi tốt pháp luật thuế; đảm bảo quản lý thuế công bằng, minh bạch và hiệu lực, hiệu quả; phục vụ tốt tổ chức, cá nhân nộp thuế và phù hợp với chuẩn mực quốc tế, nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật về thuế của tổ chức, cá nhân nộp thuế; tăng cường việc thanh tra, giám sát của cơ quan thuế; đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước."

Như vậy, một trong những yêu cầu quan trọng đối với công tác quản lý thuế hiện đại là phải kiểm soát được chất lượng, hiệu quả của từng phần công việc. Qua việc đánh giá được chất lượng, hiệu quả của từng công việc sẽ giúp cho cán bộ lãnh đạo điều hành nắm bắt được các bộ phận giúp việc của mình đã thực thi nhiệm vụ như thế nào: bộ phận nào mạnh, bộ phận nào yếu, khâu nào hiệu quả, khâu nào không hiệu quả, thậm chí đánh giá được cả năng lực quản lý, năng lực lãnh đạo của từng cá nhân. Cũng qua việc đánh giá này sẽ xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn đến các kết quả trên, từ đó các nhà quản lý có các biện pháp khắc phục, xử lý kịp thời; kết quả đánh giá cũng giúp cho các nhà chuyên môn có căn cứ để xây dựng kế hoạch, hoạch định chính sách, dự báo rủi ro một cách khách quan và khoa học; giúp cho các nhà lãnh đạo ban hành các quyết định một cách đúng đắn, phù hợp thực tiễn hơn...

Trên cơ sở các kết quả đánh giá bằng những chỉ tiêu cụ thể về số đo chất lượng và hiệu quả công tác quản lý thuế, ngành thuế phải xác định những mục tiêu thực hiện chiến lược cải cách và hiện đại hoá hết sức cụ thể cho từng năm, chỉ số tăng trưởng và chỉ số thực hiện về chất lượng quản lý thuế của năm sau phải cao hơn năm trước và mức độ hiện đại thông qua các chỉ số về mức độ ứng dụng tin học và tự động hoá trong các khâu quản lý thuế ngày càng tăng để đạt được mục tiêu cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010. Kinh nghiệm cải cách của cơ quan thuế các nước đã chỉ ra rằng, chỉ với những kết quả có thể đo được một cách cụ thể mới đảm bảo tính khả thi trong thực hiện và mới đặt ra mục tiêu rõ ràng để các tổ chức, cá nhân trong cơ quan thuế cùng phấn đấu và cùng đi theo một hướng nhất định.

Chính vì vậy, Tổng cục thuế đã xác định việc xây dựng và triển khai đề án Đánh giá chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý thuế năm 2005 để thực hiện Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010 là một nội dung rất quan trọng, góp phần thực hiện thành công Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá của ngành trong giai đoạn 2005-2010 và tạo tiền đề cho các giai đoạn tiếp theo.

II/ MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ ÁN.

Đề án Đánh giá chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý thuế năm 2005 để thực hiện Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010 nhằm thực hiện các mục tiêu chủ yếu sau:

- Đánh giá chất lượng hoạt động và hiệu quả của công tác quản lý thuế của hệ thống cơ quan thuế trên toàn quốc theo các chức năng: Tuyên truyền hỗ trợ đối tượng nộp thuế (ĐTNT); Xử lý tờ khai và Kế toán thuế; Quản lý thu nợ và cưỡng chế thuế; Thanh tra kiểm tra trên cơ sở các kết quả hoạt động của cơ quan thuế đến năm 2005.

- Đánh giá mức độ hiện đại và chuyên nghiệp của công tác quản lý thuế theo các chức năng tại năm 2005.

- Làm căn cứ để bước đầu xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng và hiệu quả theo từng chức năng của công tác quản lý thuế cho từng năm, từ năm 2006 đến năm 2010 để thực hiện hoàn thành các mục tiêu của Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010.

- Trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý thuế bước đầu này, ngành thuế sẽ tổ chức để đánh giá, điều chỉnh, bổ sung hoàn chỉnh hệ thống chỉ tiêu đánh giá này cũng như chỉ tiêu đạt được của từng năm đảm bảo hoàn thành các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của quản lý thuế trong Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010.

III/ ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA THỐNG KÊ CỦA ĐỀ ÁN

Đề án này nhằm đánh giá chất lượng hiệu quả công tác quản lý của ngành thuế, do đó đối tượng của đề án chính là cơ quan thuế các cấp. Tuy nhiên, để việc đánh giá mang tính toàn diện, khách quan và tin cậy, các đối tượng điều tra thống kê của dự án là:

- Các cơ quan thuế: bao gồm cơ quan thuế cấp Tổng cục/ Cục/ Chi cục để đánh giá năng lực, chất lượng và hiệu quả của các cơ quan thuế đó thông qua chất lượng công việc trong từng lĩnh vực và thông qua trình độ, khả năng thực tế của cán bộ thuế thực hiện từng chức năng chủ yếu của cơ quan thuế. Các chỉ tiêu đánh giá thu thập từ các đối tượng này chủ yếu mang tính định lượng. Phương pháp chủ yếu là thống kê số liệu từ nội bộ ngành thuế qua hệ thống báo cáo kết quả công việc, một số nội dung hiện không có trong chế độ báo cáo của ngành, nhóm dự án sẽ thiết kế bảng hỏi và mẫu phiếu điều tra để tiến hành thu thập thông tin điều tra.

- Các cán bộ thuế: Nhằm xác định nguồn lực và khả năng ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả công tác quản lý thuế của ngành. Cán bộ là yếu tố quyết định đến sự thành công của Chiến lược cải cách và hiện đại hoá ngành thuế. Do đó việc điều tra thống kê đối với các cán bộ thuế tại các cấp cơ quan thuế nhằm xác định một cách đầy đủ chất lượng và hiệu quả của ngành thuế. Phương pháp chủ yếu để điều tra đối với các cán bộ thuế là nhóm dự án thiết kế bảng hỏi và mẫu phiếu điều tra để tiến hành thu thập thông tin điều tra.

- Các tổ chức và cá nhân ngoài ngành thuế: Đồng thời, đề án cũng tiến hành điều tra thống kê một số tổ chức và cá nhân có liên quan để thu thập đánh giá khách quan hiệu quả hoạt động của ngành thuế. Các chỉ tiêu đánh giá thu thập từ các đối tượng này chủ yếu mang tính định tính, số ít mang tính định lượng. Phương pháp chủ yếu để điều tra các đối tượng này là nhóm dự án thiết kế bảng hỏi và mẫu phiếu điều tra để tiến hành thu thập thông tin điều tra.

IV/ NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN

A/ Đánh giá chất lượng hiệu quả công tác quản lý thuế:

Thời gian từ nay đến hết năm 2005 không còn nhiều, đồng thời đây là lần đầu tiên Tổng cục thuế thực hiện việc đánh giá tổng thể về công tác quản lý thuế, do đó, để đảm bảo tính khả thi và chủ yếu rút kinh nghiệm và tạo tiền đề để thực hiện các hoạt động đánh giá chất lượng, hiệu quả này cho các năm sau, đề án này chỉ thực hiện việc đánh giá hiệu quả công tác quản lý thuế đối với 4 chức năng quản lý thuế cơ bản của ngành thuế như sau:

- Đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền và hỗ trợ đối tượng nộp thuế;

- Đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác xử lý tờ khai, nộp thuế và kế toán theo dõi thu nộp thuế;

- Đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác quản lý thu nợ và cưỡng chế thuế;

- Đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế của ĐTNT;

- Đánh giá mức độ hiện đại và chuyên nghiệp trong từng lĩnh vực quản lý thuế.

Việc đánh giá các lĩnh vực quản lý thuế chủ yếu phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Các chỉ tiêu đánh giá phải bao gồm cả các chỉ tiêu định lượng và định tính;

- Các chỉ tiêu đánh giá phải đảm bảo tính đại diện và tiêu biểu cho chức năng đó về yêu cầu đối với công tác quản lý thuế;

- Các chỉ tiêu đánh giá phải đảm bảo tính trung thực, tin cậy cao và mang tính khách quan;

Các chỉ tiêu đánh giá cụ thể đối với các lĩnh vực chủ yếu như sau:

1. Đánh giá chất lượng, hiệu quả của công tác Tuyên truyền hỗ trợ ĐTNT

Nội dung cải cách và hiện đại hoá công tác tuyên truyền và hỗ trợ các tổ chức và cá nhân nộp thuế trong Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010 là:

"Xây dựng và thực hiện đầy đủ các hình thức và nội dung tuyên truyền, hỗ trợ tổ chức, cá nhân nộp thuế phù hợp với nhu cầu của tổ chức, cá nhân nộp thuế và chuẩn mực quốc tế (theo nguyên tắc cơ quan thuế coi tổ chức, cá nhân nộp thuế là khách hàng) được tổ chức, cá nhân nộp thuế hài lòng và tin tưởng ở chất lượng phục vụ"

Việc đánh giá các chỉ tiêu số đo chất lượng hiệu quả của công tác tuyên truyền hỗ trợ phải được chia theo các tiêu chí theo từng nhóm: nhóm ĐTNT là doanh nghiệp, cá nhân sản xuất kinh doanh (SXKD), nhóm làm công ăn lương, nhóm tự do, sinh viên nhằm xác định mức độ quan tâm và hiểu biếu chung về pháp luật thuế của xã hội nói chung và của người nộp thuế nói riêng.

Do đó, các chỉ số đo chất lượng hiệu quả của công tác tuyên truyền hỗ trợ ĐTNT tại năm 2005 bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau:

a. Nhóm các chỉ tiêu đánh giá chất lượng công tác tuyên truyền và hỗ trợ ĐTNT (dùng cho đối tượng là các tổ chức và cá nhân nộp thuế)

- Đánh giá mức độ quan tâm đối vơi các thông tin về thuế của các ĐTNT. Ví dụ: Bạn thường được biết thông tin về thuế qua hình thức nào? Đưa ra nhiều sự lựa chọn cho người được hỏi: Báo chí - Truyền hình - Đài phát thanh - Internet - Người trong ngành thuế - Các công ty tư vấn Luật

- Đánh giá tỷ lệ sử dụng các hình thức hỗ trợ của cơ quan thuế của các ĐTNT. Ví dụ: Trong quá trình kinh doanh của Công ty, bạn đã sử dụng hình thức hỗ trợ nào của cơ quan thuế trong các hình thức dưới đây: Văn bản - Điện thoại - Trực tiếp - Email - Không sử dụng.

- Đánh giá chất lượng công tác hỗ trợ của cơ quan thuế thông qua các chỉ tiêu về thời gian đáp ứng yêu cầu, thái độ của cán bộ hỗ trợ thuế, chất lượng câu trả lời. Vi dụ: Nếu bạn đã từng được cơ quan thuế hỗ trợ, xin vui lòng cho biết bạn cảm thấy thế nào khi nhận được câu trả lời về các nội dung dưới đây:

Thời gian chờ đợi để nhận được câu trả lời: Nhanh - Bình thường - Lâu

Bạn có bằng lòng với thái độ của cán bộ thuế hỗ trợ không: Có - Bình thường - Không

Câu trả lời của cơ quan thuế có rõ ràng không: Có - Bình thường - Không

- Đánh giá mức độ ưa thích sử dụng các hình thức hỗ trợ thuế. Ví dụ: Bạn hãy lựa chọn hình thức hỗ trợ mà bạn thấy phù hợp với doanh nghiệp của bạn (theo mức độ phù hợp giảm dần)?

Mức độ

Loại hình

1 2 3 4
Trực tiếp        
Điện thoại        
Văn bản        
Email        
Không thấy cần sự hỗ trợ của cơ quan thuế:

b. Nhóm các chỉ tiêu đánh giá chất lượng công tác giải quyết các yêu cầu và thủ tục hành chính thuế của ĐTNT trong năm 2005: (dùng cho đối tượng là các cơ quan thuế)

Đánh giá về thời gian xử lý và đáp ứng yêu cầu của ĐTNT:

- Tỷ lệ số văn bản yêu cầu của ĐTNT được giải quyết trong vòng 7 ngày,

- Tỷ lệ số văn bản yêu cầu của ĐTNT được giải quyết trong vòng 20 ngày,

- Tỷ lệ văn bản yêu cầu của ĐTNT phải chuyển lên cơ quan thuế cấp trên;

Đánh giá chất lượng giải quyết yêu cầu đăng ký và cấp mã số thuế:

- Tỷ lệ hồ sơ được cấp mã số thuế trong vòng 8 ngày,

- Tỷ lệ hồ sơ được cấp mã số thuế trong vòng 15 ngày;

Đánh giá chất lượng giải quyết yêu cầu hoàn thuế:

- Tỷ lệ hồ sơ được hoàn thuế trong vòng 15 ngày,

- Tỷ lệ hồ sơ được hoàn thuế trong vòng 30 ngày;

Đánh giá chất lượng giải quyết yêu cầu khiếu nại về thuế:

- Tỷ lệ hồ sơ được giải quyết khiếu nại trong vòng 60 ngày,

- Tỷ lệ hồ sơ được giải quyết khiếu nại trong vòng 120 ngày;

Đánh giá chất lượng giải quyết xoá nợ về thuế:

- Tỷ lệ hồ sơ được xoá nợ trong vòng 60 ngày,

- Tỷ lệ hồ sơ được xoá nợ trong vòng 120 ngày;

Đánh giá chất lượng giải quyết khoanh nợ, giãn nợ:

- Tỷ lệ hồ sơ được khoanh nợ, giãn nợ trong vòng 60 ngày,

- Tỷ lệ hồ sơ được khoanh nợ, giãn nợ trong vòng 120 ngày;

Đánh giá chất lượng giải quyết miễn giảm thuế:

- Tỷ lệ hồ sơ được giải quyết miễn giảm trong vòng 60 ngày,

- Tỷ lệ hồ sơ được giải quyết miễn giảm trong vòng 120 ngày;

Đánh giá chất lượng giải quyết yêu cầu mua hoá đơn thuế:

- Tỷ lệ đơn được mua hoá đơn thuế lần đầu trong vòng 1 ngày,

- Tỷ lệ đơn được mua hoá đơn thuế lần thứ hai trở đi trong vòng 1 tiếng đồng hồ;

Đánh giá chất lượng giải quyết yêu cầu tự in hoá đơn thuế:

- Tỷ lệ hồ sơ đề nghị in hoá đơn thuế lần đầu được duyệt trong vòng 5 ngày,

- Tỷ lệ hồ sơ đề nghị phát hành hoá đơn thuế được duyệt trong vòng 5 ngày;

Trên cơ sở các chỉ tiêu đánh giá, xác định mức độ yêu cầu và chất lượng công tác tuyên truyền hỗ trợ cho từng hình thức, cho từng nhóm ĐTNT và đối với từng khu vực địa bàn khác nhau.

Phân loại cơ quan thuế theo các chỉ số chất lượng đã đánh giá theo các nhóm: tốt, trung bình, yếu.

2. Đánh giá chất lượng, hiệu quả của công tác xử lý tờ khai, nộp thuế và kế toán thuế trong năm 2005.

Yêu cầu của công tác này là đảm bảo xử lý tờ khai và nộp thuế kịp thời, chính xác. Đồng thời cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời cho các bộ phận quản lý khác của cơ quan thuế. Do đó các nội dung cần đánh giá của công tác xử lý tờ khai, nộp thuế và kế toán thuế năm 2005 là:

a. Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả trong xử lý tờ khai và nộp thuế của cơ quan thuế đối với các tờ khai thuế Giá trị gia tăng và Thu nhập doanh nghiệp: (dùng cho đối tượng là các cơ quan thuế)

Đánh giá về thời gian xử lý tờ khai thuế kể từ sau khi nhận được tờ khai của ĐTNT tại cơ quan thuế và mức độ chính xác của việc nhập tờ khai của cơ quan thuế;

Đánh giá về thời gian xử lý chứng từ nộp thuế của ĐTNT kể từ khi ĐTNT nộp tiền vào NSNN và mức độ chính xác của việc nhập chứng từ của cơ quan thuế;

Đánh giá tỷ lệ phát hiện các sai sót trong việc kê khai và nộp thuế của ĐTNT;

Đánh giá về mức độ chính xác trong việc theo dõi kế toán thu nộp thuế của ĐTNT (bao gồm độ chính xác trong việc xác định số dư nợ, nộp thừa, còn khấu trừ giữa cơ quan thuế và ĐTNT);

Đánh giá về mức độ thông tin cung cấp cho các bộ phận quản lý của cơ quan thuế: quản lý thu nợ và thanh tra thuế;

b. Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả trong công tác đôn đốc kê khai và xử phạt vi phạm về kê khai thuế đối với kê khai thuế Giá trị gia tăng và Thu nhập doanh nghiệp (dùng cho đối tượng là các cơ quan thuế):

Đánh giá về mức độ tuân thủ trong việc nộp tờ khai thuế: tỷ lệ số tờ khai đã nộp so với số tờ khai phải nộp; tỷ lệ số tờ khai đã nộp đúng hạn so với số tờ khai đã nộp; tỷ lệ số tờ khai đã nộp quá hạn so với số tờ khai đã nộp theo một số loại thuế chủ yếu (Giá trị gia tăng, Thu nhập doanh nghiệp, Tiêu thụ đặc biệt, Tài nguyên, Thu nhập cá nhân);

Đánh giá về mức độ lỗi vi phạm về kê khai thuế của ĐTNT: tỷ lệ số tờ khai không hợp lệ so với số tờ khai đã nộp; Tỷ lệ số tờ khai có lỗi số học so với số tờ khai đã xử lý;

Đánh giá về tính kịp thời trong việc điều chỉnh lỗi kê khai của các ĐTNT: Tỷ lệ số tờ khai đã được điều chỉnh so với số tờ khai đã yêu cầu điều chỉnh;

Đánh giá về mức độ xử phạt vi phạm hành chính thuế về hành vi kê khai thuế:

- Tỷ lệ ĐTNT bị xử phạt và mức tiền phạt bình quân/ 1ĐTNT nộp chậm tờ khai dưới 10 ngày làm việc (hoặc dưới 90 ngày làm việc nếu là tờ khai quyết toán năm),

- Tỷ lệ ĐTNT bị xử phạt và mức tiền phạt bình quân/ 1ĐTNT nộp chậm hoặc không nộp tờ khai trên 10 ngày làm việc (hoặc trên 90 ngày làm việc nếu là tờ khai quyết toán năm),

- Tỷ lệ ĐTNT bị ấn định và mức tiền thuế ấn định bình quân/ 1 ĐTNT không nộp tờ khai thuế.

Trên cơ sở các chỉ tiêu đánh giá, xác định mức độ yêu cầu và chất lượng công tác xử lý tờ khai thuế cho từng loại cơ quan thuế và đối với từng khu vực địa bàn khác nhau.

Phân loại cơ quan thuế theo các chỉ số chất lượng đã đánh giá theo các nhóm: tốt, trung bình, yếu.

3. Đánh giá chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý thu nợ thuế năm 2005.

Nội dung cải cách và hiện đại hoá công tác quản lý thu nợ thuế trong Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010 là:

"Xây dựng và thực hiện các phương pháp, biện pháp theo dõi, đánh giá nợ thuế và thu nợ thuế phù hợp với chuẩn mực quốc tế nhằm thu đủ số thuế nợ đọng vào Ngân sách Nhà nước, không để thất thu và đảm bảo công bằng xã hội".

Do đó các nội dung cần đánh giá của công tác quản lý thu nợ và cưỡng chế thuế năm 2005 là:

a) Nhóm đánh giá tính tuân thủ của ĐTNT về nộp thuế (dùng cho đối tượng là các cơ quan thuế):

- Tỷ lệ các "trường hợp nợ" và "số tiền thuế nợ" mới phát sinh so với kỳ trước;

- Tỷ lệ các "trường hợp nợ", "số tiền thuế nợ" mới phát sinh so với "số ĐTNT”, “số tiền thuế” phát sinh số phải nộp Ngân sách Nhà nước tương ứng;

- Tỷ lệ các trường hợp nợ mới phát sinh so với số ĐTNT đang quản lý;

- Tỷ lệ các trường hợp "nợ khó thu", "chờ xử lý" so với tổng số ĐTNT đang nợ thuế;

- Tỷ lệ số tiền thuế "khó thu", "chờ xử lý" so với tổng số nợ;

- Thống kê kết cấu mức nợ, tuổi nợ;

b) Nhóm đánh giá kết quả thực hiện công tác thu thuế (dùng cho đối tượng là các cơ quan thuế):

- Số "trường hợp nợ", "số tiền thuế nợ" cũ đã thu được so với “tổng số trường hợp”, “tổng số tiền thuế” nợ cũ chuyển sang;

- Tỷ lệ số thuế nợ so với Tổng thu Ngân sách;

- Tỷ lệ tuổi nợ trung bình và tỷ lệ tuổi nợ cao nhất giảm so với kỳ trước;

- Số "trường hợp phạt nộp chậm" và "số tiền phạt nộp chậm" so với số "trường hợp nợ" và "số tiền thuế nợ";

- Số các trường hợp trích tài khoản tại ngân hàng và số tiền thuế nợ đã thu được qua việc trích tài khoản của ĐTNT. So với kỳ trước;

- Số các trường hợp đã cưỡng chế tịch thu, tịch biên tài sản số tiền thuế nợ đã thu. So với kỳ trước;

- Số các trường hợp chuyển sang cơ quan pháp luật và số tiền thuế nợ đã thu. So với kỳ trước;

- Số các trường hợp đã thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. So với kỳ trước;

- Số các trường hợp đã đình chỉ xuất nhập khẩu. So với kỳ trước;

- Số trường hợp đã lập lệnh thông Ngân sách thông qua hoàn thuế và số thuế đã thu được. So với kỳ trước;

- Số các trường hợp đã tạm ngừng bán hoá đơn thuế và tạm đình chỉ sử dụng hoá đơn thuế. So với kỳ trước”;

Trên cơ sở các chỉ tiêu đánh giá, xác định mức độ yêu cầu và chất lượng công tác quản lý thu nợ cho từng loại cơ quan thuế và đối với từng khu vực địa bàn khác nhau.

Phân loại cơ quan thuế theo các chỉ số chất lượng đã đánh giá theo các nhóm: tốt, trung bình, yếu.

4. Đánh giá chất lượng, hiệu quả của công tác Thanh tra, kiểm tra năm 2005

Nội dung cải cách và hiện đại hoá công tác thanh tra thuế trong Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010 là:

"Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin về tổ chức, cá nhân nộp thuế và sử dụng phân tích thông tin, đánh giá rủi ro để xác định đúng đối tượng cần thanh tra, kiểm tra đáp ứng yêu cầu thanh tra, kiểm tra hiệu quả của cơ quan thuế và tránh phiền hà cho tổ chức, cá nhân nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế"

Do đó các nội dung cần đánh giá của công tác thanh tra, kiểm tra năm 2005 là: (dùng cho đối tượng là các cơ quan thuế)

Tỷ lệ ĐTNT cơ quan thuế tiến hành thanh tra kiểm tra trong vòng 1 năm/ Số ĐTNT đang quản lý;

Tỷ lệ ĐTNT cơ quan thuế tiến hành thanh tra trong vòng 5 năm/ Số ĐTNT quản lý trung bình các năm;

Số lần thanh tra kiểm tra trung bình của cơ quan thuế đối với ĐTNT trong vòng 5 năm;

Số ĐTNT đã thực hiện thanh tra thanh tra, kiểm tra trong năm/ Số ĐTNT đưa vào kế hoạch thực hiện thanh tra, kiểm tra năm;

Số ĐTNT có vi phạm sau thanh tra so với số ĐTNT đã thanh tra;

Số ĐTNT có kết quả chênh lệch số thuế bằng 0 so với số ĐTNT đã thanh tra kiểm tra;

Số tiền thuế truy thu đã phát hiện được sau thanh tra và số thuế truy thu bình quân trên 1 ĐTNT;

Số thuế bị truy thu bởi những sai phạm đã được phát hiện qua phân tích hồ sơ so với số thuế truy thu bởi các sai phạm không được phát hiện qua phân tích hồ sơ;

Tỷ lệ số tiền thuế phát hiện so với số thuế đã kê khai của ĐTNT:

- Phân loại mức độ phát hiện theo mức tiền thuế bị phạt, truy thu theo lớn, vừa nhỏ),

- Phân loại theo hình thức thanh tra;

Số ngày trung bình cho một cuộc thanh tra;

Tỷ lệ % độ chính xác tại khâu phân tích hồ sơ so với số kết quả thanh tra;

Tỷ lệ các trường hợp ĐTNT có khiếu nại kết quả thanh tra, kiểm tra.

Trên cơ sở các chỉ tiêu đánh giá, xác định mức độ yêu cầu và chất lượng công tác thanh tra thuế cho từng loại cơ quan thuế và đối với từng khu vực địa bàn khác nhau.

Phân loại cơ quan thuế theo các chỉ số chất lượng đã đánh giá theo các nhóm: tốt, trung bình, yếu.

5. Đánh giá mức độ hiện đại và chuyên nghiệp của công tác quản lý thuế tại thời điểm năm 2005 theo các chức năng quản lý thuế cơ bản.

a. Mức độ hiện đại và chuyên nghiệp trong công tác dịch vụ hỗ trợ ĐTNT: (dùng cho đối tượng là các cán bộ thuế)

- Tỷ lệ cán bộ tuyên truyền hỗ trợ (TTHT) được đào tạo kỹ năng TTHT cơ bản và thời gian tham gia đào tạo bình quân trong năm 2005 (số ngày trong năm);

- Cơ cấu về chuyên ngành đào tạo của cán bộ TTHT:

+ Tỷ lệ cán bộ TTHT tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh tế tài chính,

+ Tỷ lệ cán bộ TTHT tốt nghiệp đại học chuyên ngành Luật;

- Số cán bộ Tuyên truyền hỗ trợ có thể sử dụng thành thạo các phần mềm ứng dụng ngành thuế trên máy tính và các phần mềm ứng dụng văn phòng (Word, Excel, Power Point, Email);

- Tỷ lệ các cuộc gọi, yêu cầu được quản lý bởi hệ thống máy tính;

- Khả năng cung cấp thông tin cho cán bộ TTHT qua hệ thống máy tính ngành thuế;

- Thời gian bình quân trong một ngày tiếp xúc trực tiếp với ĐTNT hoặc qua điện thoại của 1 cán bộ TTHT (cao điểm và thường ngày);

- Số văn bản trả lời ĐTNT trên 1 cán bộ TTHT bình quân trong 1 tháng.

b. Mức độ hiện đại và chuyên nghiệp trong công tác xử lý tờ khai và kế toán thuế (dùng cho đối tượng là các cơ quan thuế):

- Tỷ lệ tờ khai và chứng từ được nhập bằng các công cụ trợ giúp: máy quét trên tổng số tờ khai, chứng từ phải xử lý;

- Tỷ lệ kê khai thuế và nộp thuế điện tử trên tổng số tờ khai;

- Tỷ lệ khối lượng thông tin do ĐTNT gửi đến cơ quan thuế được xử lý trên hệ thống máy tính;

- Thời gian dành cho việc nhập dữ liệu (số ngày/ tháng) trung bình của cán bộ Xử lý tờ khai và kế toán thuế (XLTK và KTT);

- Số tờ khai, chứng từ bình quân được xử lý của 1 cán bộ XLTK và KTT trong 1 tháng (cao điểm và trung bình);

- Tỷ lệ cán bộ XLTK và KTT tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh tế tài chính;

- Số cán bộ XLTK và KTT có thể sử dụng thành thạo các phần mềm ứng dụng ngành thuế trên máy tính và các phần mềm ứng dụng văn phòng (Word, Excel, Power Point, Email).

c. Mức độ hiện đại và chuyên nghiệp trong công tác quản lý thu nợ thuế (dùng cho đối tượng là các cán bộ thuế và cơ quan thuế)

- Tỷ lệ khối lượng công việc thực hiện của cán bộ thu nợ trên hệ thống máy tính;

- Tỷ lệ thông tin cung cấp cho cán bộ thu nợ hỗ trợ ra quyết định;

- Mức độ chính xác của số nợ, tính lãi, tính phạt trên hệ thống máy tính;

- Cơ cấu về chuyên ngành đào tạo của cán bộ quản lý nợ và cưỡng chế thuế:

+ Tỷ lệ cán bộ thu nợ tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh tế tài chính,

+ Tỷ lệ cán bộ thu nợ tốt nghiệp đại học chuyên ngành Luật;

- Số cán bộ thu nợ có thể sử dụng thành thạo các phần mềm ứng dụng ngành thuế trên máy tính và các phần mềm ứng dụng văn phòng (Word, Excel, Power Point, Email);

- Số hồ sơ nợ phải giải quyết/ 1 cán bộ thu nợ bình quân trong tháng;

- Số lần tiếp xúc với ĐTNT để thực hiện các biện pháp thu nợ bình quân trong 1 tháng của 1 cán bộ thu nợ;

- Số trường hợp nợ hoàn thành của 1 cán bộ thu nợ bình quân trong 1 tháng.

d. Mức độ sử dụng hệ thống tin học trong công tác thanh tra thuế (dùng cho đối tượng là các cán bộ thuế và cơ quan thuế)

- Tỷ lệ khối lượng công việc của cán bộ thanh tra thực hiện trên hệ thống máy tính;

- Tỷ lệ ĐTNT được hệ thống máy tính tự động lựa chọn để ra quyết định thanh tra;

- Mức độ đầy đủ của thông tin do hệ thống máy tính hỗ trợ ra quyết định thanh tra;

- Số ngày công trong bình thực hiện thực tế thanh tra tại cơ sở kinh doanh của 1cán bộ thanh tra;

- Cơ cấu về chuyên ngành đào tạo của cán bộ thanh tra thuế:

+ Tỷ lệ cán bộ thanh tra tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh tế tài chính,

+ Tỷ lệ cán bộ thanh tra tốt nghiệp đại học chuyên ngành Luật,

+ Tỷ lệ cán bộ thanh tra là thanh tra viên, thanh tra viên chính;

- Số cán bộ thanh tra có thể sử dụng thành thạo các phần mềm ứng dụng ngành thuế trên máy tính và các phần mềm ứng dụng văn phòng (Word, Excel, PowerPoint, Email);

- Số ngày công trung bình trực tiếp thanh tra tại trụ sở ĐTNT/năm;

- Số vụ việc tham gia trung bình trong 1 năm của 1 cán bộ thanh tra.

Trên cơ sở các chỉ tiêu trên, đánh giá xếp loại mức độ hiện đại và chuyên nghiệp dựa trên mức độ ứng dụng công nghệ tin học trong công tác quản lý thuế theo từng cấp độ và trình độ chuyên môn, khả năng và hiệu quả công việc của từng cán bộ thuế công tác trong các lĩnh vực quản lý thuế theo chức năng.

B/ Xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch cho các năm tiếp theo

Tổng cục thuế căn cứ kết quả đánh giá, phân tích theo các chỉ tiêu đã thực hiện tại năm 2005 để bước đầu xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng và hiệu quả theo từng chức năng của công tác quản lý thuế cho từng năm, từ năm 2006 đến năm 2010.

Hàng năm, ngành thuế sẽ tổ chức để đánh giá, điều chỉnh, bổ sung hoàn chỉnh hệ thống chỉ tiêu đánh giá này cũng như chỉ tiêu đạt được của từng năm đảm bảo hoàn thành các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của quản lý thuế trong Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế giai đoạn 2005- 2010.

V/ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN DỰ ÁN

1. Phương pháp điều tra thống kê :

a. Phương pháp thu thập số liệu, thông tin điều tra thống kê

+ Rà soát các mẫu báo cáo thống kê trong toàn ngành thuế, xác định các thông tin cần thiết đã có trong chế độ báo cáo định kỳ của cơ quan thuế các cấp. Xác định thời điểm và yêu cầu thu thập thông tin qua chế độ báo cáo thống kê ngành thuế.

+ Các thông tin hiện tại chưa có trong hệ thống báo cáo định kỳ của cơ quan thuế các cấp, nhóm dự án tiến hành nghiên cứu, xây dựng một số mẫu biểu để thu thập thông tin bằng hai hình thức.

+ Ban hành các mẫu báo cáo thống kê yêu cầu các Chi cục thuế/Cục thuế tập hợp số liệu gửi Tổng cục thuế.

+ Thiết kế các mẫu điều tra để thu thập thông tin đối với các thông tin cần thu thập từ các cán bộ thuế, từ các tổ chức và cá nhân nộp thuế và khác. Các mẫu phiếu điều tra được cán bộ thuế trực tiếp phát mẫu bảng hỏi đến danh sách đã lựa chọn theo mẫu hoặc gửi lấy ý kiến tham gia trên Internet ngành thuế.

b. Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin điều tra, thống kê:

- Toàn bộ các thông tin trên được gửi về nhóm dự án tại Tổng cục thuế để tổng hợp, kiểm tra tính tin cậy, chính xác trước khi xử lý.

- Sử dụng các phần mềm tin học để nhập thông tin điều tra thống kê đã thu thập được, tổng hợp, xử lý các thông tin để đưa ra các kết quả theo các nhóm chỉ tiêu đã xây dựng.

- Lập báo cáo tổng kết đánh giá chất lượng và hiệu quả công tác quản lý thuế của ngành.

2. Phương pháp xây dựng chỉ tiêu chất lượng cho các năm tiếp theo

- Sử dụng các phương pháp phân tích dự báo để xây dựng các chỉ tiêu chất lượng hiệu quả cho các năm tiếp theo trên cơ sở kết quả đã thu thập được và các mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể của Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá ngành thuế đến năm 2010 để xác định các chỉ số đo lường cụ thể cho từng chức năng quản lý thuế.

3. Quy mô điều tra, đánh giá:

a. Đối với cơ quan thuế các cấp:

Các mẫu biểu báo cáo tập hợp từ các Cục thuế, Chi cục thuế được phân loại bao gồm:

- Các mẫu thu thập thông tin đã được quy định trong chế độ báo cáo thống kê và báo cáo khác của ngành thuế được giao cho đầu mối là Trung tâm Tin học Thống kê chịu trách nhiệm thống kê trên phạm vi toàn quốc đối với tất cả các cơ quan thuế cấp Cục và cấp Chi cục thuế. Thông tin thu thập từ các báo cáo trên có tính liên tục từ năm 2000 đến 2005.

- Các mẫu báo cáo thiết kế mới để thu thập thông tin từ các hoạt động quản lý thuế trong năm 2005 do nhóm dự án xây dựng sẽ được thực hiện lập và gửi từ các Cục và các Chi cục thuế về Tổng cục thuế để tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá (có thể chọn mẫu một số Cục và Chi cục thuế để tiến hành lập báo cáo, không cần thiết phải thực hiện quy mô toàn quốc, sẽ mất thời gian và nguồn lực, hiệu quả không cao).

Các Cục thuế dự kiến chọn mẫu sẽ mang tính đại diện theo quy mô và theo vùng, bao gồm:

+ Khu vực thành phố và Cục thuế quy mô lớn.

+ Khu vực đồng bằng và Cục thuế quy mô.

+ Khu vực miền núi và Cục thuế quy mô nhỏ.

- Các thông tin cần thu thập từ cán bộ thuế sẽ được thiết kế thành các mẫu phiếu điều tra phù hợp với từng nội dung đánh giá và phát đến một số cán bộ thuế được nhóm điều tra chọn mẫu theo một số Cục thuế, Chi cục thuế điển hình.

Dự kiến, Tổng cục thuế sẽ chọn mẫu một số Cục thuế, Chi cục thuế để phát phiếu điều tra đến từng cán bộ thuế, ngoài ra sẽ thu thập thông tin hỏi mở trên trang Web nội bộ ngành thuế để các cán bộ thuế có thể tự điền thông tin vào mẫu và gửi qua hệ thống trang Web điện tử cho nhóm dự án.

Số lượng phiếu điều tra được phân bổ theo đơn vị công tác của cán bộ, dự kiến phân bổ như sau:

- Cán bộ thực hiện nhiệm vụ Tuyên truyền hỗ trợ ĐTNT:

+ Cục: 50

+ Chi cục: 100

- Cán bộ thực hiện nhiệm vụ Xử lý tờ khai và kế toán thuế:

+ Cục: 50

+ Chi cục: 100

- Cán bộ thực hiện nhiệm vụ Quản lý thu nợ:

+ Cục: 50

+ Chi cục: 100

- Cán bộ thực hiện nhiệm vụ Thanh tra, kiểm tra ĐTNT:

+ Cục: 50

+ Chi cục: 100

Tổng số khoảng 600 phiếu điều tra được phát cho cán bộ thuế.

b. Đối với các tổ chức và cá nhân ngoài ngành thuế:

- Các bảng hỏi trực tiếp cho từng đối tượng là tổ chức, cá nhân ngoài ngành thuế chỉ áp dụng đối với các trường hợp chọn mẫu mang tính đại diện, không áp dụng cho phạm vi toàn quốc. Nhóm điều tra tiến hành chọn mẫu và phân bổ theo từng địa bàn để tiến hành phát mẫu phiếu điều tra.

Dự kiến, Tổng cục thuế sẽ chọn mẫu một số tổ chức, cá nhân hoặc ĐTNT tại các Cục thuế đại diện theo vùng để tiến hành phát phiếu điều tra. Số lượng mẫu phiếu điều tra được phân bổ theo loại đối tượng bao gồm:

Doanh nghiệp: 200 (trong đó chia cơ cấu theo loại hình và quy mô doanh nghiệp)

Hộ cá thể sản xuất kinh doanh, hộ nộp các loại thuế nhà đất, phí, lệ phí...: 300

Công chức, viên chức, người lao động trong các đơn vị sản xuất kinh doanh: 100

Học sinh, sinh viên: 200

Người nước ngoài: 100

Đối tượng khác: 100

Số lượng phiếu điều tra phát ra ước tính khoảng 1.000 phiếu

VI/ PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Việc tổ chức điều tra được thực hiện bởi nhóm dự án điều tra thống kê tại Tổng cục Thuế và đơn vị đối tác thuê ngoài.

- Nhóm dự án của Tổng cục thuế bao gồm các thành phần sau:

+ Ban Hợp tác quốc tế (Tổ chuyên trách): 03 cán bộ

+ Ban Tổ chức cán bộ: 01 cán bộ

+ Trung tâm Tin học - Thống kê (Phòng Thống kê- Tổng hợp): 02 cán bộ

+ Ban Doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp khác : 01 cán bộ

+ Ban Tuyên truyền hỗ trợ: 01 cán bộ

+ Ban Thanh tra: 01 cán bộ

+ Ban Doanh nghiệp nhà nước: 01 cán bộ

+ Ban Dự toán thu thuế: 01 cán bộ

(Dự kiến nhóm khoảng 11 cán bộ)

- Đơn vị đối tác thuê ngoài được Tổng cục thuế chỉ định là Trung tâm điều tra xã hội học thuộc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, là đơn vị có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực điều tra thống kê, có khả năng đào tạo cán bộ của nhóm dự án điều tra của Tổng cục thuế và đảm trách vai trò kỹ thuật trong suốt quá trình điều tra.

Ngoài ra, thành phần tham gia còn bao gồm Cục thuế, Chi cục thuế, lấy vai trò chủ trì đầu mối là Phòng Tin học và Xử lý dữ liệu về thuế của các Cục thuế (hoặc phòng Xử lý tờ khai và Kế toán thuế của Cục thuế thực hiện cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế cấp cơ quan Cục thuế).

Trách nhiệm của từng bên tham gia cụ thể như sau:

1. Nhóm dự án Tổng cục thuế:

Nhóm dự án của Tổng cục thuế là đơn vị chính chịu trách nhiệm trước Lãnh đạo Tổng cục thuế về việc tổ chức điều tra và kết quả điều tra bao gồm các công việc cụ thể sau:

a. Công tác chuẩn bị dự án:

- Lập dự án, trình Tổng cục phê duyệt nội dung, phương pháp tổ chức thực hiện, địa điểm thực hiện, đơn vị và kinh phí thực hiện.

- Rà soát các nguồn thông tin báo cáo hiện có của ngành thuế, xác định các thông tin điều tra thống kê đã có trong chế độ báo cáo định kỳ tại cơ quan thuế các cấp. Xây dựng tài liệu yêu cầu và hướng dẫn các Cục thuế, Chi cục thuế tổ chức lập, gửi báo cáo cho Nhóm dự án Tổng cục thuế

- Xây dựng một số mẫu báo cáo bổ sung đối với các thông tin điều tra thống kê có thể thu thập được từ các đơn vị trong ngành thuế bằng hình thức báo cáo tổng hợp tại cơ quan thuế các cấp. Xây dựng tài liệu yêu cầu và hướng dẫn các Cục thuế, Chi cục thuế tổ chức lập, gửi báo cáo cho Nhóm dự án Tổng cục thuế.

- Xây dựng phần mềm ứng dụng tin học nhập và xử lý báo cáo thống kê, lập các báo cáo kết quả theo mục tiêu, yêu cầu của dự án (trừ các phần mềm chuyên dụng xử lý phiếu điều tra được thiết kế theo bảng hỏi).

b. Tổ chức thực hiện dự án:

- Phối hợp với đơn vị thuê ngoài thực hiện các công việc sau:

+ Xây dựng các mẫu biểu điều tra, đánh giá, các bảng hỏi và các hướng dẫn đối với các cán bộ thuế và tổ chức, cá nhân ngoài ngành thuế;

+ Lựa chọn mẫu điều tra đánh giá tại các tỉnh, thành phố;

+ Tiến hành các phương pháp điều tra, thu thập thông tin để xử lý, tổng hợp và đưa ra các chỉ số đo kết quả của ngành thuế trên một số lĩnh vực chủ yếu;

+ Đôn đốc các đơn vị trong ngành thuế thực hiện trách nhiệm báo cáo theo yêu cầu của Tổng cục;

+ Kiểm tra chất lượng thông tin điều tra thống kê đã thu thập được;

+ Nhập và xử lý các thông tin thu thập được;

+ Tiến hành hướng dẫn chỉnh lý thông tin, yêu cầu chỉnh lý thông tin đối với các bên tham gia;

+ Tổ chức tập huấn điều tra thống kê cho các đơn vị trong ngành thuế;

+ Nghiệm thu kết quả; giám sát đơn vị thuê ngoài thực hiện trách nhiệm như các thoả thuận đã ký kết;

- Trên cơ sở phân tích nguồn lực, khả năng và yêu cầu của cải cách, xây dựng và đưa ra các chỉ tiêu phấn đấu cho ngành từng năm tiếp theo và cho đến năm 2010 theo các tiêu chuẩn quốc tế.

c. Tổng kết dự án:

- Báo cáo Tổng cục kết quả điều tra của dự án và phê duyệt dự kiến chỉ tiêu chất lượng cho các năm tiếp theo.

2. Đơn vị đối tác thuê ngoài:

Đơn vị là đối tác thuê ngoài thực hiện dự án này với Tổng cục thuế có trách nhiệm:

- Phối hợp thực hiện thiết kế các mẫu báo cáo thống kê, hướng dẫn lập biểu và xây dựng tài liệu hướng dẫn cơ quan thuế các cấp lập báo cáo theo yêu cầu của Tổng cục thuế;

- Thiết kế các mẫu phiếu điều tra theo từng đối tượng điều tra (cơ quan thuế, cán bộ thuế, tổ chức và cá nhân ngoài ngành thuế);

- Lựa chọn mẫu điều tra;

- Chuẩn bị tài liệu, tổ chức đào tạo kỹ năng điều tra cho nhóm dự án Tổng cục thuế và tham gia tập huấn cho các cơ quan thuế;

- Sử dụng chương trình phần mềm ứng dụng tin học để nhập và xử lý kết quả thông tin điều tra, lập các báo cáo kết quả theo mục tiêu, yêu cầu của dự án;

- Xây dựng cơ sở dữ liệu, tổng hợp kết quả và lập báo cáo điều tra;

- Bàn giao toàn bộ tài liệu, kết quả điều tra cho nhóm dự án Tổng cục thuế.

3. Đối với Cục thuế, Chi cục thuế:

Cục thuế, Chi cục thuế có trách nhiệm:

- Tập hợp báo cáo thống kê theo yêu cầu, hướng dẫn của Tổng cục thuế;

- Phối hợp với Nhóm dự án của Tổng cục thuế và đơn vị đối tác thuê ngoài phát phiếu điều tra và thu thập phiếu điều tra đối với cán bộ thuế và tổ chức, cá nhân nộp thuế trong phạm vi quản lý của cơ quan thuế;

VII/ KẾ HOẠCH THỰC HIỆN

Kế hoạch thực hiện dự án được chia thành 3 giai đoạn chủ yếu sau:

1. Giai đoạn 1: Từ 15/10/2005 đến 15/11/2005 - Chuẩn bị dự án

- Xác định các chỉ tiêu đánh giá chất lượng và hiệu quả công tác quản lý thuế theo từng nội dung, lĩnh vực quản lý.

- Rà soát hệ thống báo cáo định kỳ của cơ quan thuế các cấp, xác định các chỉ tiêu đã có trong hệ thống báo cáo này. Chuẩn bị văn bản, tài liệu phân công và chỉ đạo cơ quan thuế các cấp lập và gửi báo cáo, thu thập báo cáo tại thời điểm điều tra.

- Xây dựng các mẫu biểu báo cáo mới. Viết tài liệu hướng dẫn lập và gửi báo cáo để chỉ đạo hướng dẫn cơ quan thuế các cấp thực hiện.

- Thiết kế mẫu phiếu điều tra.

- Tiến hành chọn mẫu.

- Xây dựng phần mềm ứng dụng tin học phục vụ cập nhật cơ sở dữ liệu điều tra thống kê.

2. Giai đoạn 2: Từ 16/11/2005 đến 10/12/2005 - Tiến hành thu thập thông tin điều tra

- Ban hành công văn hướng dẫn các Cục thuế thực hiện.

- Tập huấn cho cán bộ thuộc nhóm dự án và cán bộ thuế tại cơ quan thuế các cấp.

- Đôn đốc các đơn vị thuộc ngành thuế lập và gửi báo cáo.

- Tiến hành phát phiếu điều tra và thu thập phiếu điều tra.

- Cập nhật toàn bộ thông tin thu thập được vào hệ thống cơ sở dữ liệu điều tra thống kê.

3. Giai đoạn 3: Từ 11/12/2005 đến 25/12/2005 - Xử lý kết quả và xác định các chỉ số đánh giá chất lượng hiệu quả

Xử lý các thông tin điều tra thống kê.

Kiểm tra và hiệu chỉnh các thông tin chưa chuẩn xác.

Lập báo cáo tổng hợp kết quả điều tra.

Công bố các kết quả đánh giá chất lượng, hiệu quả theo các chỉ tiêu đã xây dựng.

4. Giai đoạn 4: Từ 26/12/2005 đến 10/1/2006 - Xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng hiệu quả cho các năm tiếp theo và đến năm 2010

Xây dựng kế hoạch khung giao chỉ tiêu phấn đấu chất lượng, hiệu quả của từng chức năng quản lý ở mỗi cấp ngành thuế.

VIII/ KINH PHÍ DỰ KIẾN

Tổng kinh phí dự kiến cho thực hiện điều tra thống kê của đề án là: 293.800.000 đồng

Trong đó:

Kinh phí Tổng cục Thuế thực hiện: 143.200.000 đồng.

Kinh phí thuê đơn vị ngoài thực hiện: 150.600.000 đồng.

(Bảng chi tiết kinh phí đính kèm)

Riêng kinh phí mua và xây dựng phần mềm ứng dụng tin học phục vụ cho việc nhập và xử lý thông tin điều tra thống kê được thực hiện riêng. Đề nghị Tổng cục giao cho nhóm dự án nghiên cứu, đề xuất phương án đối với phần mềm ứng dụng tin học này.

Kinh phí này chưa bao gồm tiền công tác phí của cán bộ nhóm dự án Tổng cục thuế (đi lại, ăn ở) và tiền đào tạo tập huấn cho cán bộ Cục thuế nếu có./.

(Xem Phụ lục Bảng chi tiết kinh phí trong phần Tải xuống)