Sở Tư pháp | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 1058 /QĐ-UB | Tuyên quang, ngày 15 tháng 12 năm 1997 |
QUYẾT ĐỊNH CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH
"Ban hành quy chế về phát huy quyền làm chủ của nhân dân"
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 21 tháng 6 năm 1994.
- Căn cứ Nghị quyết số 12/NQ-TU ngày 20/11/1997 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về kế hoạch thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII).
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Nay ban hành Quy chế về Phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Các Đ/C Chánh văn phòng UBND Tỉnh, Thủ trưởng các đơn vị, Chủ tịch UBND các huyện, Thị xã trong tỉnh Tuyên Quang căn cứ Quyết định thi hành.
- Văn phòng Chính phủ " thay - Thường trực Tỉnh uỷ " báo - Thường trực HĐND Tỉnh " cáo - Các đ/c T.T UBND Tỉnh - UBND các huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn - Như Điều 2 - Lưu VT T/M UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG | CHỦ TỊCH |
UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH TUYỀN QUANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
QUY CHẾ
VỀ "PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN"
(Ban hành kèm theo quyết định số: 058 / QĐ-UB
ngày 15 tháng 12 năm 1997 của UBND tỉnh Tuyên quang)
Phần I Những quy định chung
Điều 1: Thủ trưởng các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, các ngành, các đơn vị lực lượng vũ trang, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp... (Gọi tắt là các cơ quan, đơn vị) có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong phạm vi chức năng nhiệm vụ quyền hạn của mình trên các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, dựa vào sức mạnh của nhân dân xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh, giữ vững kỷ cương, pháp luật, xây dựng Nhà nước thực sự là của dân, do dân, vì dân.
Điều 2: Các cơ quan, đơn vị đều phải có kế hoạch, biện pháp mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương. Quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ trong khuôn khổ của pháp luật nhằm khắc phục tình trạng độc đoán chuyên quyền vô kỷ luật, dân chủ cực đoan lợi dụng dân chủ để gây rối. Nâng cao chất lượng dân chủ đại diện, mở rộng và có cơ chế từng bước thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp trước hết là ở cơ sở một cách thiết thực, đúng hướng và có hiệu quả trong từng lĩnh vực hoạt động của các thôn bản, tổ nhân dân, cơ quan, đơn vị thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
Điều 3: Các cơ quan, đơn vị bằng nhiều hình thức: Thông qua phương tiện thông tin đại chúng và tuyên truyền trực tiếp các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước một cách sâu rộng đến tận cơ sở.
Mỗi công dân phải tự mình nâng cao ý thức, trách nhiệm không ngừng học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ, nắm vững các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước. Có đủ phẩm chất và năng lực tham gia xây dựng chính quyền, thực sự phát huy được quyền làm chủ của nhân dân.
CHỦ CỤC
B
Những quy định cụ thể
A) Về kinh tế:
Điều 4: Các cơ quan, đơn vị phải phổ biến rộng rãi trong nhân dân về chủ trương, đường lối chính sách của Đảng pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh tế; quyền tự do phát triển sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế theo đúng pháp luật
Điều 5: Các cơ quan đơn vị căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của mình hướng dẫn thực hiện các chủ trương chính sách phát triển kinh tế ở địa phương để các thành phần kinh tế thực hiện đúng các chế độ, chính sách pháp luật về sản xuất kinh doanh thu chi tài chính, về nghĩa vụ nộp ngân sách, quyền lợi của người lao động và các nghĩa vụ quyền lợi khác, đảm bảo công bằng xã hội.
Điều 6: Nhân dân có quyền tham gia, đóng góp ý kiến vào xây dựng mục tiêu, phương hướng, kế hoạch phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo... của địa phương, của từng cơ quan, đơn vị, của mọi thành phần kinh tế, thông qua các hình thức trực tiếp từ cơ sở hoặc thông qua các tổ chức, đại biểu đại diện cho nhân dân và có nghĩa vụ thực hiện sau khi đã được quyết định tại các kỳ họp của HĐND các cấp theo đúng Luật quy định.
Điều 7. Các cơ quan, đơn vị đặc biệt là các lĩnh vực trực tiếp liên quan đến đời sống nhân dân phải cải cách đơn giản hoá các thủ tục hành chính.
Các quy định về thủ tục hành chính phải được niêm yết công khai tại trụ sở nơi giao dịch, các phòng tiếp dân để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát.
Điều 8: Các cơ quan, đơn vị phải công khai các quy định của nhà nước, của tỉnh về các khoản đóng góp mà nhân dân phải thực hiện và các quyền lợi nhân dân được hưởng. Việc đóng góp của nhân dân phải được sử dụng đúng mục đích, thu chi phải công khai rõ ràng. Đối với những khoản đóng góp mang tính chất vận động phải tuyên truyền thuyết phục để nhân dân tự giác thực hiện.
Điều 9: Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải công khai báo cáo định kỳ: 6 tháng, 1 năm về công việc đã làm, về sử dụng tài sản, thu chi tài chính của cơ quan trước cán bộ, công chức, người lao động trong toàn cơ quan, đơn vị.
B) Về chính trị:
Điều 10. Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm thực hiện tốt chế độ dân chủ đại diện, từng bước thực hiện dân chủ trực tiếp ở cơ sở, tổ chức cho nhân dân
VĂN THIỂU
ĂN học tập, tìm hiểu quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm trong việc giới thiệu, lựa chọn những đại biểu ưu tú cử vào các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức xã hội, đảm bảo đủ trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức trong từng lĩnh vực, từng cương vị công tác. Tổ chức cho nhân dân thực hiện quyền của mình thông qua tổ chức UBMTTQ và các thành viên, giới thiệu đại biểu ưu tú cho cơ quan quản lý nhà nước và các đoàn thể.
Điều 11: Các cơ quan, đơn vị xây dựng và công bố công khai chế độ phân công cán bộ, đại biểu của các tổ chức xã hội ở cấp xã, phường, thị trấn phụ trách một cụm dân cư; ở cấp tỉnh, huyện phụ trách một cụm xã để liên hệ chặt chẽ với nhân dân, thường xuyên tiếp xúc lắng nghe ý kiến của nhân dân phản ánh những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, phổ biến truyền đạt các chế độ chính sách của Đảng và nhà nước, các nghị quyết của HĐND đến nhân dân khu vực mình phụ trách, làm cho người cán bộ, các đại biểu của nhân dân luôn gắn bó với nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.
Điều 12: Mọi công dân đều có quyền giám sát, phát hiện, đề nghị xem xét các đại biểu đại diện cho nhân dân của các tổ chức xã hội, cán bộ chính quyền, các công chức nhà nước có hành vi tham nhũng, tiêu cực, vi phạm chính sách, pháp luật, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân lên các cơ quan, đơn vị có đủ thẩm quyền giải quyết và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kiến nghị của mình.
Điều 13: Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị phải thông báo rộng rãi bằng nhiều hình thức về việc thi tuyển, tuyển dụng cán bộ, công chức, tuyển dụng lao động. Quy định rõ về tiêu chuẩn, trình độ. Kết quả phải được công khai để nhân dân được biết.
Điều 14: Để phát huy quyền làm chủ trực tiếp ở cơ sở. Các thôn bản, tổ nhân dân, được xây dựng các quy ước, hương ước phát huy truyền thống tốt đẹp, bài trừ các hủ tục và các tệ nạn xã hội, xây dựng an ninh nhân dân, bảo vệ trật tự, an toàn trong địa bàn, phòng chống âm mưu phá hoại của địch, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, bảo vệ môi trường, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo đảm quyền con người, quyền công dân...những quy ước đó thể hiện được bản sắc dân tộc, truyền thống tốt đẹp của địa phương và phù hợp với với pháp luật.
C) Về Văn hoá xã hội:
Điều 15: Các cơ quan, đơn vị công khai và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của địa phương về phát triển văn hoá xã hội, trên các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, giáo dục, y tế, dân số, kế hoạch hoá gia đình...đến tận thôn, xóm, bản, tổ nhân dân, một cách thường xuyên và liên tục. Bằng nhiều hình thức để đảm bảo nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân.
Điều 16: Các cơ quan đơn vị công khai các chính sách ưu tiên trong giáo dục đào tạo đối với các ngành nghề phù hợp với các điều kiện của địa phương. Định hướng đào tạo cán bộ, các tiêu chuẩn thi tuyển, cử tuyển đi học các trường chuyên nghiệp được phổ biến rộng rãi cho nhân dân biết và thực hiện.
Điều 17. Các cơ quan, đơn vị bằng nhiều hình thức thông tin, tuyên truyền thường xuyên về các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tình hình của địa phương để nhân dân biết và thực hiện.
Điều 18. Các cơ quan, đơn vị công bố những quy định về tự do tín ngưỡng trong các lĩnh vực hoạt động văn hoá xã hội. Mọi đối tượng đều được bình đẳng trước pháp luật của Nhà nước.
Điều 19: Các cơ quan, đơn vị đảm bảo cho nhân dân có quyền được hưởng thụ các giá trị văn hoá nhân loại, văn hoá dân tộc thông qua các hình thức tổ chức hội thảo, hội nghị, các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, cho ra các tập san, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng... đến tận cơ sở thôn, xóm, bản và cụm dân cư.
Điều 20: Mỗi gia đình, mỗi thôn bản, mỗi tổ dân cư, từng cơ quan, đơn vị phải có cam kết về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống các biểu hiện tiêu cực xã hội, các âm mưu và hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc, của tập thể của nhân dân.
Phần III Tổ chức thực hiện
Điều 21: Các cấp chính quyền, các cơ quan, đơn vị, các tổ chức xã hội căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của mình xây dựng nội quy, quy chế của cơ quan và những quy định cụ thể về quyền làm chủ có sự tham gia ý kiến của nhân dân và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Kiên quyết xử lý những tổ chức cá nhân vi phạm các quy định thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
Điều 22: Quy chế này được phổ biến rộng rãi để nhân dân biết và thực hiện. Định kỳ hàng năm các cơ quan, đơn vị phải kiểm điểm tổng kết việc thực hiện các quy định về phát huy quyền làm chủ trước nhân dân. Báo cáo với cấp uỷ cùng cấp và báo cáo về UBND tỉnh về việc thực hiện quy chế.
T/M UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
CHỦ TỊCH
T/M QUANG
0