vanban.org

Nghị quyết số 60/2003/NQ-HĐND Về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm 2003

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2004
Tuyên Quang Ban hành 08/08/2003 Hiệu lực 08/08/2003 Hết hiệu lực toàn bộ
Từng phần
Hết hiệu lực toàn bộ từ 01/01/2004 — Văn thư vanban.org

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
TỈNH TUYÊN QUANG
Sở Tư pháp
27.08.2020
17:48:14
+07:00

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 60/2003/NQ-HĐND

Tuyên Quang, ngày 08 tháng 8 năm 2003

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

KHÓA XV - KỲ HỌP THỨ 9

(Từ ngày 22 tháng 7 năm 2003 đến ngày 23 tháng 7 năm 2003)

NGHỊ QUYẾT

Về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm 2003

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

Căn cứ Điều 31, Chương II, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi) ngày 21 tháng 6 năm 1994;

Sau khi xem xét các báo cáo trình tại kỳ họp và ý kiến của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,

QUYẾT NGHỊ:

Nhất trí thông qua báo cáo của UBND tỉnh về thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng 6 tháng đầu năm; nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng 6 tháng cuối năm 2003.

Hội đồng nhân dân tỉnh nhấn mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

1. Về sản xuất nông - lâm nghiệp:

- Thực hiện sản xuất nông - lâm nghiệp phải xóa manh mún, phân tán; hình thành vùng cây cùng loại, cùng trà, tập trung, chuyên canh quy mô lớn.

- Chỉ đạo chặt chẽ sản xuất vụ mùa; chuẩn bị các điều kiện cho sản xuất vụ đông - xuân 2003 - 2004. Có kế hoạch cụ thể, chủ động phòng chống lụt bão và hạn hán, quản lý chặt chẽ và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn nước, đảm bảo đủ nước phục vụ sản xuất vụ đông - xuân. Tiếp tục kiên cố hóa kênh mương, gắn với việc "dồn điền, dồn thửa" xây dựng đường giao thông nội đồng.

- Tích cực chăm sóc diện tích mía hiện có, đi đôi với trồng mới mía vụ thu 2003. Hoàn thành kế hoạch trồng 146 ha chè năm 2003 với mật độ 5,7 vạn cây/ha theo quy trình thâm canh cao; chuẩn bị đủ giống cho kế hoạch trồng chè năm 2004.

Ủy ban nhân dân tỉnh khẩn trương ban hành mới quy trình trồng chè, mía, cây rừng với kỹ thuật tiên tiến theo hướng thâm canh cao, để thực hiện ngay từ năm 2003.

- Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển chăn nuôi bò sữa, bò thịt cao sản, trâu kiêm dụng, phát triển chăn nuôi lợn, gia cầm và thủy sản. Phát triển đàn bò sữa, bò thịt cao sản theo cơ chế: Kinh tế hộ tự chủ, kinh tế tập thể là nền đảm nhận những khâu dịch vụ tạo điều kiện để kinh tế hộ phát triển mạnh mẽ; các trang trại thực hiện khoán gọn đàn bò cho cá nhân hoặc tập thể và cá nhân, tập thể phải chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động kinh tế của trại theo đúng quy định của pháp luật. Xây dựng và thực hiện cơ chế chính sách về phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm. Tổ chức tiêm phòng kịp thời cho đàn gia súc, gia cầm; tăng cường công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y... Có các biện pháp cụ thể để thực hiện được vùng, tỉnh an toàn dịch bệnh.

- Hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2003; chuẩn bị đủ giống cây keo lai giâm hom, nuôi cấy mô để trồng trên 3.000 ha rừng năm 2004. Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 12/2003/CT-TTg ngày 16 tháng 5 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ, Thông báo số 13/TB-TU ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và Chỉ thị 06/CT-UB ngày 01/6/2003 của UBND tỉnh về công tác bảo vệ và phát triển rừng. Hủy bỏ cây sả trên diện tích núi đất, đất lấn chiếm và đất của các lâm trường, công ty chè, dự án, hợp tác xã; UBND tỉnh xây dựng cơ chế hướng dẫn các hộ có diện tích đất trồng sả chuyển sang trồng rừng, chè, lạc, đỗ tương. Năm 2004 hủy bỏ toàn bộ cây sả trên địa bàn tỉnh.

- Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 28/NQ-TW ngày 16 tháng 6 năm 2003 của Bộ Chính trị "Về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông lâm trường quốc doanh".

2. Sản xuất công nghiệp - thủ công nghiệp, giao thông - vận tải, bưu điện:

- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án sản xuất xi măng, đầu tư xây dựng Nhà máy giấy An Hòa, cụm công nghiệp Long Bình An... Hoàn thành quy hoạch tổng thể thị xã Tuyên Quang đến năm 2010. Khẩn trương thi công các trường học đã thông báo kế hoạch đầu tư năm 2003 và chương trình kiên cố hóa trường học của Chính phủ.

- Đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình cầu Kim Quan, Trung Yên, Thiện Kế, cầu Cả và hệ thống đèn đường, giải phân cách đường Bình Thuận. Khởi công xây dựng các cầu: Tân Hà, An Hòa, Yên Lĩnh, Thác Dẫng, cầu treo Trung Sơn; nâng cấp, rải nhựa tuyến đường ĐT 185 (Tân Long - Kim Bình - Chiêm Hóa). Nâng cao hiệu quả công tác khoán duy tu bảo dưỡng đường bộ, có biện pháp tích cực để giảm thiểu tai nạn giao thông, tăng cường kiểm tra các phương tiện giao thông đường thủy, đường bộ.

- Nâng cao chất lượng mạng lưới bưu chính viễn thông: Hoàn thành kế hoạch phát triển thêm 09 xã có điện thoại, 12 điểm bưu điện - văn hóa xã và tuyến cáp quang treo Chiêm Hóa - Na Hang, cột An ten Bưu điện tự đứng tại thị trấn Na Hang, phủ sóng điện thoại di động khu vực suối khoáng Mỹ Lâm huyện Yên Sơn.

3. Công tác di dân tái định cư xây dựng thủy điện Tuyên Quang:

Tổng kết và đánh giá công tác xây dựng các khu tái định cư mẫu, rút kinh nghiệm để triển khai tổ chức di chuyển và tiếp nhận 1.600 hộ dân tái định cư theo kế hoạch. Gắn quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện Na Hang với công trình thủy điện Tuyên Quang. Di chuyển trụ sở, trường học, trạm y tế của các xã bị ngập đến nơi mới, đảm bảo thuận tiện giao thông và công tác quản lý điều hành của cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể gần dân, sát dân hơn. Lên phương án điều chỉnh lại địa giới hành chính các thôn, bản, các xã của huyện Na Hang phù hợp với vùng lòng hồ sau này. Thực hiện các khu tái định cư là các khu nông thôn mới.

4. Tài chính, tín dụng, thương mại, du lịch:

Các tổ chức tín dụng mở rộng hình thức liên doanh liên kết với các tổ chức cá nhân trong việc huy động nguồn vốn trong và ngoài tỉnh để tập trung đầu tư cho các dự án công nghiệp. Thực hiện hỗ trợ lãi suất sau đầu tư đối với các dự án trọng điểm của tỉnh.

Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm chuẩn bị đủ vốn để đáp ứng kịp thời cho phát triển các dự án công nghiệp.

Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Đầu tư phát triển có trách nhiệm huy động nguồn vốn ưu đãi cho các cá nhân và tổ chức vay để phát triển sản xuất.

Phát triển nguồn thu, chống thất thu ngân sách, phấn đấu thu đạt và vượt kế hoạch năm 2003. Thực hiện quy chế công khai tài chính với việc thu, chi ngân sách Nhà nước ở các cấp; tiếp tục rà soát, củng cố đội ngũ kế toán để nâng cao chất lượng quản lý tài chính, ngân sách; tăng cường kiểm soát chi ngân sách.

Tiếp tục mở mới và nâng cấp các chợ nông thôn. Mở rộng hoạt động tiếp thị, tìm kiếm thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu tập trung các mặt hàng: Chè, bột ba rít... Hoàn thành quy hoạch tổng thể và triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng khu du lịch - điều dưỡng suối khoáng Mỹ Lâm.

5. Khoa học - công nghệ và môi trường:

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 41/NQ-TU ngày 21 tháng 11 năm 2000 của Tỉnh ủy về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và Đề án tin học hóa quản lý hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 - 2005. Thực hiện giai đoạn II dự án xây dựng trung tâm tích hợp dữ liệu và kết nối mạng tin học; xây dựng 12 mạng nội bộ cho UBND các huyện, thị xã và một số ban, ngành trong tỉnh.

Đánh giá các đề tài, dự án đã kết thúc, được ứng dụng vào sản xuất đời sống. Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, mạng thông tin với các trung tâm xã, cụm xã đã nối mạng.

6. Văn hóa - xã hội:

- Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học ở cơ sở ở 2 xã còn lại (Sinh Long huyện Na Hang và Hùng Lợi huyện Yên Sơn) vào cuối năm 2003. Phấn đấu hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục bậc trung học vào tháng 8/2006; mọi công dân từ 15 đến 21 tuổi phải chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ và quyền lợi về học tập để đạt trình độ bậc trung học trước khi hết tuổi 21. UBND tỉnh cần tập trung chỉ đạo và thực hiện các nhiệm vụ:

Thành lập Ban chỉ đạo phổ cập bậc trung học ở tất cả các cấp; củng cố việc quản lý dạy và học bổ túc văn hóa từ tỉnh đến cơ sở, chủ động bố trí các lớp bổ túc THPT gắn với các trường THCS, THPT trên địa bàn xã, cụm xã.

Xây dựng Quy định về chế độ, chính sách thu hút giáo viên có trình độ đại học ở các tỉnh ngoài về công tác tại tỉnh, tại các xã đặc biệt khó khăn; chế độ hỗ trợ dạy bổ túc văn hóa, THPT; quy định về tuyển chọn giáo viên THCS có trình độ đại học, giáo sinh cao đẳng sư phạm (học lực khá, giỏi) để đào tạo dạy bổ túc THPT.

Xây dựng Quy định về chế độ hỗ trợ người học bổ túc THPT: Được miễn học phí, lệ phí thi; được mượn sách giáo khoa, cấp học phẩm; miễn lao động công ích, lao động xã hội trong thời gian đi học (trừ cán bộ viên .chức được hưởng lương và sinh hoạt phí); người nghèo hoặc có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn được xét trợ cấp 10 kg gạo/tháng. Các trường hợp đang học THPT nếu bỏ học phải truy thu tiền học phí và các khoản chi phí khác.

Các huyện, thị xã chủ động:

Rà soát, nắm vững số người trong độ tuổi từ 15 đến 21 tuổi, phân loại trình độ của từng độ tuổi để xây dựng kế hoạch tổ chức học tập phấn đấu đạt trên 95% thanh niên từ 18 tuổi đến 21 tuổi vào học THPT hoặc bổ túc trung học phổ thông; đến tháng 8 năm 2006 trên 75% thanh niên từ 18 đến 21 tuổi tốt nghiệp bậc trung học (THPT hoặc bổ túc THPT).

Rà soát, thống kê lại toàn bộ giáo viên mầm non (cả mầm non dân lập) tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông chưa đạt chuẩn; xây dựng kế hoạch đào tạo, đào tạo lại giáo viên các cấp, chuẩn hóa giáo viên.

Nắm chắc số giáo sinh đã được đào tạo có trình độ cao đẳng chưa tham gia giảng dạy, số giáo sinh đã tốt nghiệp chưa được cấp bằng để xem xét giải quyết cho phù hợp.

Chuẩn bị đầy đủ các điều kiện đảm bảo khai giảng năm học 2003 - 2004 đúng quy định.

- Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 30/NQ-TU ngày 25/02/2000 của Tỉnh ủy "Về củng cố, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, đặc biệt là tuyến y tế cơ ở". Triển khai đồng bộ các chương trình quốc gia về y tế, dân số - gia đình. Rà soát và thực hiện các biện pháp tích cực để hết tháng 12 năm 2003 có 43 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 100% trạm y tế có bác sỹ, giảm tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy đinh dưỡng xuống dưới 30‰. Chủ động phòng chống một số bệnh có nguy cơ lây nhiễm cao như: Sốt xuất huyết, lao, SARS, HIV/AIDS...

- Khẩn trương xây dựng cơ chế để thực hiện bảo hiểm y tế cho người nghèo, bảo hiểm y tế cho học sinh, bảo hiểm y tế tự nguyện nhân dân theo hộ gia đình.

- Duy trì tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhà văn hóa trung tâm cụm xã, nhà văn hóa thôn bản. Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của đoàn nghệ thuật tỉnh, Bảo tàng tỉnh, Nhà văn hóa trung tâm tỉnh. Tổ chức thi sáng tác, tuyển chọn và in nhân đĩa các ca khúc viết về Tuyên Quang.

- Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền chủ trương, đường lối, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình; khẩn trương kiểm tra kết quả lắp đặt đợt I để tiếp tục thực hiện kế hoạch lắp gặp thiết bị thu truyền hình vệ tinh kỹ thuật số loại nhỏ để II phục vụ các thôn bản chưa thu được sóng truyền hình.

- Làm tốt công tác vận động xây dựng Quỹ "Đền ơn đáp nghĩa", công tác chăm sóc các gia đình có công. Trong quý III/2003 giải quyết dứt điểm các trường hợp tồn đọng về khen thưởng, Huân, Huy chương kháng chiến. Các đối tượng chính sách khác giải quyết xong trong năm 2003. Rà soát, đánh giá kết quả xóa đói giảm nghèo từng xã, có giải pháp để giảm hộ nghèo, nhất là thôn bản có tỷ lệ hộ nghèo trên 10%, phấn đấu hết năm 2003 giảm tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh xuống dưới 30%, không còn thôn, bản có tỷ lệ hộ nghèo trên 10%.

- Tổ chức dạy nghề và có biện pháp tích cực giải quyết việc làm. Tăng cường các biện pháp cụ thể trong công tác giải quyết việc làm ở khu vực thành thị, nông thôn; giải ngân nhanh nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm.

- Tăng cường triển khai đồng bộ các chương trình phòng chống tệ nạn xã hội, công tác quản lý cai nghiện ma túy ở các giai đoạn, có biện pháp quản lý, chăm sóc đối tượng nhiễm HIV/AIDS tại địa phương.

- Đẩy mạnh thực hiện vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân của, cuộc vận động xây dựng, sửa chữa nhà ở cho các hộ nghèo.

7. Công tác củng cố, xây dựng chính quyền:

- Phân loại hoạt động chính quyền cơ sở theo tiêu chí mới; tiếp tục rà soát, đánh giá chính xác chất lượng cán bộ 19 chức danh ở xã và trưởng thôn, bản để bố trí, sắp xếp phù hợp với năng lực và trình độ. Nâng cao chất lượng giám sát, tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND, chất lượng công tác của cán bộ UBND và đoàn thể các cấp.

8. Công tác thanh tra - tư pháp, an ninh - quốc phòng:

- Tăng cường công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhất là Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đất đai, Luật Giao thông đường bộ.

- Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tư pháp, đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng điều tra, giải quyết các vụ án; nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp, tăng cường công tác xét xử lưu động; nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, hình sự.

- Duy trì tốt công tác tiếp dân, giải quyết kịp thời các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân. Đôn đốc thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm tra.

- Nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo an ninh chính trị và giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới; chú trọng an ninh nông thôn, đặc biệt an ninh vùng sâu, vùng xa; tấn công trấn áp các loại tội phạm, tệ nạn xã hội trên địa bàn tỉnh; duy trì công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông.

- Thực hiện nghiêm túc chế độ trực sẵn sàng chiến đấu. Tổ chức huấn luyện giai đoạn 2; hoàn thành kế hoạch huấn luyện lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên. Bổ sung và luyện tập các phương án tác chiến, phương án A2; chuẩn bị lực lượng và phương tiện để chủ động phối hợp trong công tác phòng chống lụt bão, cứu hộ, cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai.

Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Thường trực HĐND, các Ban của HĐND tỉnh, đại biểu HĐND các cấp giám sát, kiểm tra, đôn đốc UBND các cấp, các ngành trong việc thực hiện Nghị quyết này.

Nghị quyết này đã được HĐND tỉnh khóa XV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 23 tháng 7 năm 2003.

TM. HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

K/T CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Nguyễn Sáng Vang