vanban.org

Công văn số 4403/BTC-CST V/v xử lý thuế GTGT của tài sản, hàng hoá bị tổn thất

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 06/04/2015 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Tài chính Ban hành 06/04/2015 Hiệu lực 06/04/2015 Còn hiệu lực
Từng phần
Còn hiệu lực từ 06/04/2015 — Văn thư vanban.org

BỘ TÀI CHÍNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 4409/BTC-CST

V/v xử lý thuế GTGT của tài sản, hàng hóa bị tổn thất.

Hà Nội, ngày 6 tháng 04 năm 2015

Kính gửi: Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

GTSF
6/4/15
ESCS

Trong thời gian qua, Bộ Tài chính nhận được nhiều kiến nghị về việc hướng
dẫn xử lý thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với tài sản, vật tư, hàng hóa bị tổn thất
được các doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường. Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý
kiến như sau:

ESCS

Căn cứ quy định tại khoản 15 Điều 1 Nghị định số 121/2011/NĐ-CP ngày
27/12/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
123/2008/NĐ-CP
ngày 08/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật thuế GTGT; quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9
Nghị định số 209/2013/NĐ-CP
ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT;

Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm a khoản 12 Điều 14 Thông tư số
06/2012/TT-BTC
ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật thuế GTGT, hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày
08/12/2008 và Nghị định số 121/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ; quy
định tại khoản 1, điểm a khoản 12 Điều 14 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày
31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT
và hướng dẫn thi hành Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính
phủ;

Thi thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, tài sản bị tổn thất từ ngày 01/03/2012
được xử lý như sau:

a) Trường hợp cơ sở kinh doanh không được bồi thường thuế GTGT đầu vào
của hàng hóa chịu thuế GTGT bị tổn thất, cơ sở kinh doanh được khấu trừ toàn bộ
số thuế GTGT đầu vào này;

Trường hợp hợp đồng bảo hiểm quy định giá trị bồi thường không bao gồm
thuế GTGT của hàng hóa, tài sản chịu thuế GTGT bị tổn thất, cơ sở kinh doanh
nhận tiền bồi thường bảo hiểm lập chứng từ thu theo quy định và được khấu trừ số
thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, tài sản bị tổn thất. Cơ sở kinh doanh bảo hiểm
lập chứng từ chi tiền bồi thường bảo hiểm;

b) Trường hợp hợp đồng bảo hiểm quy định giá trị bồi thường có bao gồm
thuế GTGT của hàng hóa, tài sản chịu thuế GTGT bị tổn thất, cơ sở kinh doanh
nhận tiền bồi thường bảo hiểm xuất hóa đơn GTGT (trên hóa đơn ghi rõ giá trị tổn
thất được bồi thường chưa có thuế GTGT và số tiền thuế GTGT được bồi thường),
kê khai, tính nộp thuế GTGT đầu ra tương ứng với số thuế GTGT được bồi thường
và được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, tài sản bị tổn thất này;

c) Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền cho người tham gia bảo hiểm sửa chữa tài sản; chi phí sửa chữa tài sản cùng các vật tư, phụ tùng thay thế có hóa đơn GTGT ghi tên người tham gia bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện thanh toán cho người tham gia bảo hiểm phí bảo hiểm tương ứng theo hợp đồng bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm được kê khai khấu trừ thuế GTGT tương ứng với phần bồi thường bảo hiểm thanh toán theo hóa đơn GTGT đứng tên người tham gia bảo hiểm; trường hợp phần bồi thường bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán cho người tham gia bảo hiểm có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì phải thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định tại điểm a khoản 12 Điều 14 Thông tư số 06/2012/TT-BTC và tại điểm a khoản 12 Điều 14 Thông tư số 219/2013/TT-BTC.

Bộ Tài chính hướng dẫn Cục thuế các địa phương để biết và thực hiện./.