Bộ Tài Chính | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 347 T CT /DTTT Hà nội, ngày 16 tháng 2 năm 2004 |
V/ v Tăng cường quản
lý thu NSNN
Kính gửi : Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Theo số liệu báo cáo nhanh của các địa phương, tình hình thu Ngân sách Nhà nước tháng 1 năm 2004 đạt khá so với dự toán và tăng trưởng so cùng kỳ : thu nội địa do ngành thuế quản lý đạt 9,8% so dự toán pháp lệnh và tăng 34,3% so với cùng kỳ năm 2003, trong đó, thu nội địa trừ dầu thô đạt 7,8% so dự toán pháp lệnh, tăng 17,8% so cùng kỳ năm trước. Có 8/16 khoản thu đạt mức tăng trưởng khá so dự toán và so cùng kỳ là: khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu từ khu vực công thương nghiệp dịch vụ ngoài quốc doanh, thu lệ phí trước bạ, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế thu nhập, thu từ xổ số kiến thiết, thu tiền giao quyền sử dụng đất, thu khác ngân sách và thu tiền bán nhà.
Có 22/64 địa phương đạt mức thấp dưới mức bình quân chung cả nước (7,8%) so dự toán là: Hà nam, Thừa Thiên Huế, Bắc cạn, Quảng bình, Yên bái, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hà nội, Phú thọ, Đồng nai, Hậu giang, Cần thơ, Điện biên, Thanh hóa, Vĩnh long, Bình thuận, Vĩnh phúc, An giang, Ninh bình, Quảng ngãi, Kiên giang, Bình phước, Phú yên.
Tình hình và kết quả thu một số khu vực và sắc thuế như sau:
- Thuế môn bài khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt thấp bằng 69 ,9 % so dự toán và chỉ bằng 86,4% so cùng kỳ. Có 34/64 địa phương thu không đạt 80% dự toán năm theo tinh thần chỉ đạo tại công văn số 4419 T CT /NV6 ngày 11/12/2003 của Tổng cục thuế về biện pháp quản lý thuế ngoài quốc doanh năm 2004 là tỉnh Sóc trăng, Bắc cạn, Hậu giang, Kon tum, Phú yên, Cao bằng, Gia lai, Trà vinh, Quảng ngãi, Điện biên, Bình thuận, Yên bái, Quảng trị, Bình phước, Đắc lắc... trong số đó có 19/34 địa phương có số thu về thuế môn bài lớn nhưng kết quả thu đạt thấp so dự toán: thành phố Hồ Chí Minh 65,1%, thành phố Đà nẵng 64,5%, Bà rịa Vũng tàu 45,5%, Bình dương 69,7%, Cà mau 69,2%, Đồng tháp 75,3%, Lâm đồng 74%, Khánh hòa 58,3%, Thừa Thiên Huế 55,7%, Vĩnh phúc 52,6%, Long an 51,8%, Bến tre 51,3%, Bình định 50,1%, Tây ninh 47,8%, Vĩnh long 36,3%, Cần thơ 31,5%, Đồng nai 61,5%, An giang 67,5%, Kiên giang 60,6%.
- Khu vực doanh nghiệp nhà nước tuy đạt 6,9% so dự toán và tăng trưởng khá so cùng kỳ, nhưng vẫn còn 22 /61 địa phương có mức tăng trưởng thấp so cùng kỳ như : Thái nguyên 76,5%, Quảng ninh 80,3%, Kon tum 86,9%, Nam định 43,3%, Sơn la 80%, Yên bái 51,1%, Bắc cạn 18,3%, Thừa Thiên Huế 36,6%, Tiền giang 63,2%, Nghệ an 77,8%, Vĩnh phúc 25,8%, Bắc ninh 87%, Quảng bình 25,6%, Bến tre 53,4%, Cao bằng 72,2%, Long an 58,6%, Hải dương 58,6%, Quảng trị 24,7%, Hà tĩnh 52,8%, Thành phố Hồ Chí Minh 74,8%, Kiên giang 52,1%, Bình thuận 24,2%.
- Khu vực Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 8 ,2 % so dự toán và tăng trưởng khá so cùng kỳ , nhưng vẫn còn 7 /61 địa phương có mức tăng trưởng thấp so cùng kỳ như: Bắc cạn 85,3% Thừa Thiên Huế 75,7%, Gia lai chỉ bằng 10,4%, Bắc ninh 48,8%, Khánh hòa 57,7%, Tây ninh 17,9%.
Kết quả thu tháng 1 tuy đạt khá nhưng chưa đạt được mục tiêu đề ra tại Hội nghị tổng kết ngành thuế năm 2003 ngày 28-29/11 là phấn đấu thu năm 2004 có mức tăng trưởng trên 19 ,1 % so với thực hiện năm 2003. Bên cạnh đó, tình hình kinh tế xã hội đầu năm diễn biến hết sức phức tạp, đã xuất hiện một số yếu tố không thuận lợi đối với sản xuất kinh doanh và thu ngân sách nhà nước như: hạn hán và rét đậm kéo dài ở các tỉnh Đồng bằng Bắc bộ, đáng ngại hơn là dịch cúm gia cầm đã ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước.
Để thực hiện tốt mục tiêu tăng trưởng về thu nội địa trừ dầu năm 2004 so với năm 2003 cao hơn mức tăng trưởng năm 2003 so với năm 2002, Tổng Cục thuế đề nghị Cục thuế cần đánh giá phân tích, làm rõ những nguyên nhân ảnh hưởng tới số thu tháng đầu năm, đồng thời thực hiện tốt những biện pháp sau:
1- Từ 1/1/2004, các Luật thuế mới đã được bổ sung, sửa đổi một cách toàn diện, về cơ bản đã tháo gỡ các khó khăn vướng mắc về thuế suất, thủ tục kê khai, miễn giảm và hoàn thuế, nhằm khuyến khích đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, do đó, cần phải thu sát số phát sinh của năm 2004, kiên quyết không để nợ đọng, chây ỳ nộp thuế.
2- Ngay trong tháng 2/2004 đặt mục tiêu và giao nhiệm vụ thu từng tháng, quí cho các đơn vị trong ngành thuế phải có mức tăng trưởng bằng hoặc cao hơn so với cùng kỳ. Tập trung kiểm tra công tác lập bộ môn bài năm 2004 của các Chi cục thuế, đối chiếu với số hộ lập bộ năm 2003, so với hộ điều tra thống kê. Đồng thời, đối chiếu số tiền thuế lập bộ với dự toán được giao. Yêu cầu điều chỉnh những bất hợp lý về tổng số hộ, cơ cấu hộ giữa các bậc và tổng số tiền thuế môn bài đã lập bộ.
3- Triển khai ngay công tác thanh tra, kiểm tra các đối tượng nộp thuế để chống thất thu Ngân sách, giải quyết dứt điểm các trường hợp nợ đọng thuế. Tiến hành kiểm tra thuế bước 1 tại trụ sở cơ quan thuế, đôn đốc thu ngay các khoản tồn đọng của năm 2003. Kiểm tra rà soát các hộ mới ra kinh doanh để đ ưa vào đăng ký thuế và lập bộ quản lý thuế.
4- Tăng cường quản lý đối tượng nộp thuế, phối hợp với chính quyền cơ sở để quản lý 100% hộ kinh doanh có địa điểm cố định, 95% hộ kinh doanh vãng lai trên địa bàn, hộ kinh doanh sớm tối, kinh doanh cho thuê nhà, vận tải tư nhâ n...
5- Đề nghị các cơ quan Nội chính (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án) tiến hành khẩn trương việc xử lý nghiêm minh các vụ lừa đảo trốn lậu thuế mà Cục thuế đã phát hiện để có tác dụng răn đe đối với các doanh nghiệp.
6- Công bố công khai, trên các phương tiện thông tin đại chúng về danh sách các doanh nghiệp có Đăng ký kinh doanh, đã xin cấp mã số thuế nhưng nhiều tháng không kê khai nộp thuế và thực tế không tồn tại theo đúng địa chỉ đăng ký kinh doanh. Kịp thời đề nghị UBND tỉnh, thành phố thu hồi Đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế thu hồi mã số thuế ./ .
- KT/tổng cục trưởng tổng cục thuế - Như trên Phó Tổng cục trưởng - UBND các tỉnh, TP (để phối hợp chỉ đạo) - Lưu: VP (HC), DTTT |