Kính gửi: Cục Thuế các tỉnh, TP trực thuộc TƯ
Thời gian qua Tổng cục Thuế nhận được một số ý kiến phản ánh về một số vướng mắc khi thực hiện Thông tư số 41/2004/TT-BTC ngày 18/5/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2004/NĐ-CP ngày 25/2/2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế; Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1- Việc xử phạt vi phạm hành chính đối với đối tượng vi phạm vừa có tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ:
Khoản 2, Điều 2 Nghị định 100/2004/NĐ-CP ngày 25/2/2004 quy định: "Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt quy định đối với hành vi đó. Trường hợp có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt được giảm xuống, nhưng không dưới mức tối thiểu của khung tiền phạt. Trường hợp có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể cao hơn nhưng không vượt mức tối đa của khung tiền phạt."
Thông tư số 41/2004/TT-BTC ngày 18/5/2004 của Bộ Tài chính, Phần B hành vi vi phạm hình thức và mức xử phạt có quy định mức xử phạt đối với những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế (trừ trường hợp phạt về trốn thuế) quy định nếu có 2 tình tiết giảm nhẹ là mức phạt bằng mức thấp nhất của khung hình phạt và có 2 tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt là mức cao nhất của khung tiền phạt. Vì vậy, nếu một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế vừa có tình tiết tăng nặng vừa có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt đối với hành vi đó là kết quả bù trừ tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng.
Ví dụ: Một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế nếu có 2 tình tiết tăng nặng và 1 tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt đối với hành vi đó là mức phạt quy định cho hành vi có một tình tiết tăng nặng và ngược lại.
2- Về thủ tục xử phạt đối với hành vi nộp chậm tiền thuế, tiền phạt:
- Việc xử phạt vi phạm chính đối với hành vi vi phạm nộp chậm tiền thuế, tiền phạt theo hướng dẫn tại điểm 1, Mục II, Phần B Thông tư số 41/2004/TT-BTC ngày 18/5/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết về việc xử phạt được thực hiện theo tháng hoặc theo ngày khi tổ chức, cá nhân vi phạm tự giác chấp hành và được ban hành dưới hình thức Quyết định.
Trường hợp mức xử phạt nộp chậm mà cơ quan thuế để sau một tháng mới tính và mức phạt đó cao hơn 100.000.000 đồng thì cơ quan thuế cần phải xem xét lại việc quản lý của mình vì trường hợp này có số tiền thuế chậm nộp rất lớn mà lại không có biện pháp xử phạt. Vì vậy, trường hợp có số tiền thuế chậm nộp lớn, rất lớn thì Cục Thuế phải có ngay biện pháp đôn đốc và thông báo phạt chậm nộp kịp thời (có thể 10 ngày một lần).
- Về thẩm quyền xử phạt được thực hiện theo hướng dẫn tại Mục I, Phần C Thông tư số 41/2004/TT-BTC nêu trên. Về việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thuế hoặc việc chuyển vụ việc vi phạm trốn thuế có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan thẩm quyền để xử lý thuộc thẩm quyền của Cục trưởng hoặc Chi cục trưởng theo quy định.
3- Đối với biện pháp tạm thời đình chỉ sử dụng hoá đơn:
Căn cứ điểm 1, Mục II, Phần B Thông tư số 41/2004/TT-BTC khi xét thấy cần phải áp dụng biện pháp tạm thời đình chỉ sử dụng hoá đơn theo quy định tại tiết b, Khoản 3, Điều 5 Nghị định số 100/2004/NĐ-CP, cơ quan thuế có thẩm quyền phải ra quyết định đình chỉ sử dụng hoá đơn. Sau khi quyết định tạm thời đình chỉ sử dụng hoá đơn có hiệu lực thi hành, cơ quan thuế tiến hành lập biên bản kiểm kê hoá đơn và niêm phong số hoá đơn đã bán cho đơn vị chưa sử dụng, giao cho đơn vị bảo quản.
Trường hợp chưa hết thời hạn 03 tháng mà đối tượng vi phạm có căn cứ chứng minh đã chấp hành xong quyết định xử phạt (có chứng từ nộp tiền vào kho bạc nhà nước...) thì cơ quan chỉ cần lập biên bản đơn vị đã thực hiện đúng quyết định xử phạt và phá niêm phong hoá đơn, giao cho đối tượng tiếp tục được sử dụng mà không cần phải ra quyết định huỷ bỏ quyết định đình chỉ sử dụng hoá đơn.
4- Về biên bản vi phạm hành chính: Thực hiện theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 41/2004/TT-BTC ngày 18/5/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2004/NĐ-CP ngày 25/2/2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế. Riêng trường hợp thực hiện thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế sử dụng biên bản thanh tra, kiểm tra theo mẫu biên bản thanh tra, kiểm tra thuế được thực hiện theo mẫu ban hành kèm theo Quyết định số 1439 TCT/QĐ/TTr ngày 29/10/1999 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế làm căn cứ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế.
5- Về việc ký biên bản xử lý vi phạm hành chính: Thực hiện theo quy định tại Khoản 2, Điều 20, Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính:
" 2. Trong trường hợp người lập biên bản không có thẩm quyền xử phạt thì thủ trưởng của người đó là người có thẩm quyền xử phạt cũng phải ký tên vào biên bản; trường hợp cần thiết thì tiến hành xác minh trước khi ký biên bản.".
6- Xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi khai man, trốn thuế:
Đối tượng vi có hành vi khai man, trốn thuế thì ngoài việc bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là nộp đủ số thuế trốn mà còn bị xử phạt tiền theo lần trên số thuế trốn theo quy định của pháp luật về thuế theo hướng dẫn tại Mục VI, Phần B Thông tư số 41/2004/TT-BTC ngày 18/5/2004 của Bộ Tài chính.
7- Thời điểm xác định hoàn thành hành vi trốn thuế GTGT để xử phạt vi phạm hành chính:
Điểm 3c, Mục VI, Phần A Thông tư số 41/2004/TT-BTC nêu trên hướng dẫn thời điểm xác định cá nhân, tổ chức hoàn thành hành vi trốn thuế để xử phạt về hành vi trốn thuế: "Đối với các trường hợp hoàn thuế, miễn, giảm thuế là thời điểm quyết định hoàn thuế, giảm thuế, miễn thuế của cơ quan thuế có hiệu lực thi hành...".
Trường hợp cơ quan thuế kiểm tra, thanh tra trước hoàn thuế giá trị gia tăng phát hiện đơn vị kê khai chưa đúng để được hoàn thuế số thuế được hoàn lớn hơn số thực tế phát sinh thì số thuế kê khai gian lận đơn vị không được khấu trừ hoặc hoàn thuế. Số thuế GTGT của hồ sơ đề nghị hoàn thuế sau khi đã loại trừ số thuế GTGT kê khai gian lận, cơ sở kinh doanh phải kết chuyển sang kỳ kê khai nộp thuế sau để bù trừ vào số thuế GTGT phải nộp. Không xử phạt về hành vi trốn thuế mà xử phạt về các hành vi vi phạm hành chính liến quan.
8- Xử phạt đối với hành vi vi phạm vận chuyển hàng hoá, nguyên vật liệu trên đường được thực hiện theo hướng dẫn tại điểm 2, Mục III, Phần B Thông tư số 41/2004/TT-BTC ngày 18/5/2004 của Bộ Tài chính được giải thích rõ như sau: Hành vi vận chuyển hàng hoá trên đường phải có chứng từ kèm theo để chứng minh lô hàng đã nộp thuế hoặc đã được quản lý để thu thuế. Nếu trong thời hạn 24 giờ tính từ thời điểm kiểm tra phát hiện, đối tượng cung cấp được chứng từ thì xử phạt theo khung tiền phạt từ 1 đến 2 triệu đồng; sau 24 giờ mới cung cấp được chứng từ thì cũng coi như không cung cấp được và bị xử phạt về hành vi trốn thuế đã được quy định tại tiết h, điểm 1, Mục IV, phần B Thông tư số 41/2004/TT-BTC.
9- Về xử phạt hành vi đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp quyết toán thuế quá thời hạn:
Căn cứ quy định tại Mục I, Phần B Thông tư số 41/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính thì việc lập biên bản vi phạm hành chính làm căn cú xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế là thời điểm cá nhân, tổ chức không thực hiện đúng thời hạn phải đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp quyết toán thuế theo quy định của văn bản pháp luật về thuế.
Riêng trường hợp vi phạm quy định tại điểm 3a, điểm 6, Mục I, Phần B Thông tư số 41/2004/TT-BTC chưa nộp đăng ký thuế, tờ khai thuế, quyết toán thuế thì cơ quan thuế tiến hành lập biên bản và ra quyết định xử phạt. Sau khi ra quyết định xử phạt nhưng đối tượng vẫn không đăng ký thuế, nộp tờ khai thuế, quyết toán thuế thì cơ quan thuế tổ chức ấn định số thuế tạm nộp (điểm 7, Mục I, Phần B Thông tư số 41/2004/TT-BTC).
10- Về việc áp dụng mẫu biên bản vi phạm hành chính:
- Mẫu biên bản biên bản vi phạm hành chính kèm theo Thông tư số 41/2004/TT-BTC ngày 18/5/2004 của Bộ Tài chính được áp dụng chung cho mọi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.
- Đối với việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm in ấn, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn cũng áp dụng thống nhất theo mẫu quy định tại Phụ lục danh mục một số mẫu biên bản và quyết định sử dụng trong xử phạt vi phạm hành chính ban hành kèm theo Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ.
- Khi lập biên bản cần lưu ý nội dung các hành vi vi phạm để ghi chép cho phù hợp.
11- Thời hiệu khiếu nại: Căn cứ quy định tại Điều 31 Luật khiếu nại, tố cáo thì thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo hoặc quyết định xử lý của cán bộ thuế, cơ quan thuế. Trường hợp, Luật thuế ban hành và có hiệu lực sau ngày Luật khiếu nại, tố cáo có hiệu lực, quy định thời hiệu khiếu nại khác với quy định tại Điều 31 Luật khiếu nại, tố cáo thì được thực hiện theo quy định của Luật thuế đó.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế được biết và thực hiện./.