- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thúy H được ly hôn anh Hồ Thái A.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 63/2022/HNGĐ-ST Ngày: 22/7/2022. Về tranh chấp "Hôn nhân&gia đình" |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thanh Hương.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Đấu và ông Nguyễn Công Thẩm.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Văn Hoài - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
- Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 22 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 78/2022/TLST–HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2022 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2022/QĐXX-ST ngày 01 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thúy H, sinh năm 1997.
ĐKHKTT: Phòng 710, Chung cư T, khối T, phường V, thành phố Vinh,
tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: Số 94/1 đường N, khối 10, phường B, thành phố Vinh. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Hồ Thái A, sinh năm: 1996.
ĐKHKTT: Phòng 710, Chung cư T, khối T, phường V, thành phố Vinh,
tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, bản tự khai và những lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thúy H trình bày: Chị và anh Hồ Thái A kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 28/9/2016 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không phù hợp, quan điểm sống bất đồng nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng đỉnh điểm là vào giữa tháng 7 năm 2021 vợ chồng có cãi nhau, anh Hồ Thái A nghi ngờ chị có quan hệ tình cảm với người khác và đánh chị nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống tại 94/01 đường Nguyễn Đức Đạt, khối 10, phường Bến Thủy, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An sống. Từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân được 4 năm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn không thể khắc phục được. Nay chị thấy không còn tình cảm với Anh Thái A, vợ chồng sống không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hồ Thái A.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Hồ Thái A có 01 con chung. Nay ly hôn chị có nguyện vọng giao con chung là Hồ Thái P, sinh ngày 30/4/2017 cho anh Hồ Thái A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng do công việc chị và chỗ ở chưa ổn định, không có điều kiện trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Anh Hồ Thái A có chỗ ở ổn định, hiện nay anh đang trực tiếp nuôi con, là người bố có trách nhiệm và thương con nên chị cũng yên tâm và đề nghị Tòa án cho chị được thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung một tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) kể từ tháng 8/2022 cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) .
Về tài sản: Chị H trình bày vợ chồng không có tài sản chung và không có khoản nợ chung nào. Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
- Tại Biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án anh Hồ Thái A trình bày: Anh và chị Nguyễn Thúy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An vào ngày 28/9/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hiểu ý nhau nên có xảy ra cãi vã và chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6 năm 2021 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Sau khi ly thân anh và con trai chuyển đến sinh sống nơi khác nên hoàn toàn cắt đứt liên lạc. Nay Chị H muốn ly hôn thì đó là việc của Chị H, anh không còn tình cảm gì với chị H. Anh không muốn hòa giải tại Tòa án nên đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng có 01 (một) con chung là Hồ Thái P, sinh ngày 30/4/2017. Kể từ thời điểm vợ chồng ly thân thì con sống cùng với anh cho đến nay. Nay ly hôn anh có nguyện vọng giao con chung cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Anh Hồ Thái A trình bày anh và chị H không có tài sản chung, không có nợ chung. Anh Thái A không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 BLTTDS; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 BLTTDS; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của BLTTDS. Do anh Hồ Thái A được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Anh Hồ Thái A theo các điều 227, 228 BLTTDS là có cơ sở. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71; Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại điều 70, 72 BLTTDS. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điều 91, Điều 147, khoản 1 Điều 207, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự: Về tình cảm: Cho chị Nguyễn Thúy H được ly hôn anh Hồ Thái A. Về con chung: Giao 01 (một) con chung là Hồ Thái P, sinh ngày 30/4/2017 cho anh Hồ Thái A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thúy H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) kể từ tháng 8 năm 2022 cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành; Về án phí: đề nghị buộc chị Nguyễn Thúy H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
. Về thẩm quyền: Đây là vụ án về tranh chấp hôn nhân và đình, bị đơn là anh Hồ Thái A hiện có hộ khẩu thường trú tại Phòng 710, Chung cư T, khối T, phường V, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nên căn cứ vào quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vinh.
. Về việc vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Sau khi thụ lý Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, văn bản tố tụng khác cho Anh Hồ Thái A đúng quy định tại các điều 196, 208, 220 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng Anh Thái A đều vắng mặt không có lý do nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Do anh Hồ Thái A được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Anh Hồ Thái A theo quy định tại các điều 227, 228 BLTTDS.
. Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thúy H kết hôn với anh Hồ Thái A trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 28/9/2016 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa Chị H và Anh Thái A là hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Nguyễn Thúy H và anh Hồ Thái A đều thừa nhận vợ chồng chung sống có phát sinh mâu thuẫn nên vợ chồng xảy ra cãi vã nhau, Chị H và anh Thái A sống ly thân từ tháng 6 năm 2021, đến nay hai bên đều không còn tình cảm với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Tòa án đã nhiều lần thông báo hòa giải để thực hiện việc hòa giải cho chị Nguyễn Thúy H và anh Hồ Thái A nhưng anh Thái A vắng mặt thể hiện anh Thái A không có ý thức hòa giải để vợ chồng trở về đoàn tụ, cố tình vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị H và anh Thái A đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của Chị H là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên xử cho chị Nguyễn Thúy H được ly hôn anh Hồ Thái A.
. Về con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thúy H và anh Hồ Thái A có 01 (một) con chung là Hồ Thái P, sinh ngày 30/4/2017. Nay ly hôn Chị H và anh Thái A đều có nguyện vọng giao con chung cho anh Thái A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay anh Hồ Thái A đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Nguyện vọng của chị H và anh Thái A phù hợp với quy định của pháp luật về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn nên cần chấp nhận giao con chung cho Anh Hồ Thái A được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hồ Thái A không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên do chị Nguyễn Thúy H đề nghị Tòa án cho chị được thực hiện nghĩa vụ của mình đối với con chung. Nguyện vọng của chị H đề nghị Tòa án ghi nhận cho chị thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/tháng kể từ tháng 8 năm 2022 cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi) là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con chưa thành niên nên cần chấp nhận.
. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thúy H và anh Hồ Thái A đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thúy H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 97, Điều 147, khoản 2 Điều 207, Điều 227, điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, Xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thúy H được ly hôn anh Hồ Thái A.
2. Về con chung: Giao 01 (một) con chung là Hồ Thái P, sinh ngày 30/4/2017 cho anh Hồ Thái A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Chị Nguyễn Thúy H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/1 tháng, kể từ tháng 8 năm 2022 cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi).
Chị Nguyễn Thúy H có quyền đi lại thăm nom con chung, anh Hồ Thái A cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở chị Nguyễn Thúy H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thúy H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị Nguyễn Thúy H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009879 ngày 22 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Số tiền chị H còn phải thi hành là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Nguyễn Thúy H có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An; Anh Hồ Thái A có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSNDTP Vinh; - Chi cục THA dân sự TP Vinh; - TAND tỉnh Nghệ An; - UBND phường Đ; ( Đăng ký kết hôn ngày 28/9/2016); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Thanh Hƣơng |