- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Quang K.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 996/2024/QĐST-HNGĐ | Bình Tân, ngày 24 tháng 7 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu xác định mẹ cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Quang Phong.
Thư ký phiên họp: Bà Phan Thị Ánh Tuyết, Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, tham gia phiên họp: Ông Đoàn Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số số: 568/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024, về việc “Yêu cầu xác định mẹ cho con”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 445/2024/QĐST-VDS ngày 09 tháng 7 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Anh Lê Quang K, sinh năm 1973, thường trú: XX Đường Sin Co, Khu phố 12, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Quang H, sinh năm 1949, anh Lê Quang K1, sinh năm 1983, cùng thường trú: XX Đường Sin Co, Khu phố 12, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Tất cả các đương sự có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, anh Lê Quang K nộp đơn yêu cầu xác nhận bà Lý Thị N, sinh năm 1950, chết năm 2021, địa chỉ thường trú trước khi chết: XX Đường Sin Co, Khu phố 12, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, là mẹ ruột của anh Lê Quang K.
Anh Lê Quang K có cha là ông Lê Quang H, mẹ là bà Lý Thị N, ông bà có đăng ký kết hôn trong thời kỳ chế độ cũ và đăng ký kết hôn lại năm 2003 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 256 quyển 2/2003 ngày 29/9/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Bình Trị Đông, Huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (nay thuộc phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh).
Do trong thời kỳ chiến tranh nên ông bà không làm khai sinh cho anh K, sau này cũng chỉ khai hộ khẩu, làm Giấy chứng minh nhân dân cho anh K lấy tên là Lê Quang K.
Anh Lê Quang K có một người em ruột tên Lê Quang K1, sinh năm 1983, Giấy khai sinh số 157 do Ủy ban nhân dân xã Bình Trị Đông, Huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (nay thuộc phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp ngày 25/6/1983. Trong đó ghi cha mẹ của anh K1 là bà Lý Thị N và ông Lê Quang H.
Bà Lý Thị N chết ngày 28/8/2021 (Trích lục khai tử số 105/TLKT ngày 17/9/2021 của Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh). Do không có giấy khai sinh nên anh K không làm được các thủ tục về thừa kế đối với di sản của bà N để lại.
Do đó, anh Lê Quang K nộp đơn yêu cầu xác nhận bà Lý Thị N là mẹ ruột của anh K, đồng thời đề nghị Tòa án trưng cầu giám định GEN giữa anh và em ruột Lê Quang K1 để xác định có cùng huyết thống theo dòng mẹ.
Anh Lê Quang K nộp kèm theo đơn các tài liệu: Căn cước công dân mang tên Lê Quang K; Trích lục đăng ký nhận cha, con số 11/TLCMC-BS ngày 16/8/2022 của Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, về việc xác nhận đăng ký việc nhận cha, con giữa ông Lê Quang H và anh Lê Quang K; Kết quả xét nghiệm DNA huyết thống giữa ông Lê Quang H và anh Lê Quang K số 7942-DTHPT-DNA HT ngày 29/7/2022 của Bệnh viện truyền máu huyết học với kết quả xác suất liên hệ cha con là 99,9999%; Sổ hộ khẩu số 31240007403 ngày 15/8/2012 trong đó chủ hộ là ông Lê Quang H, bà Lý Thị N là vợ, anh Lê Quang K1 là con;
Theo Phiếu kết quả phân tích AND số KQ 2413253 ngày 08/7/2024 của Trưng cầu Công ty cổ phần dịch vụ Phân tích Di truyền – Chi nhánh phía Nam (GENTIS HCM), địa chỉ: 8/24 Nguyễn Đình Khơi, phường 4, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa anh Lê Quang K và anh Lê Quang K1 “Hai người trên có quan hệ huyết thống theo dòng mẹ”.
Ông Lê Quang H và anh Lê Quang K1 nộp bản tự khai xác nhận toàn bộ lời trình bày và tài liệu do anh Lê Quang K cung cấp là đúng sự thật và đồng ý với yêu cầu của anh K.
Tại phiên họp: Các đương sự có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp có ý kiến như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến thời điểm mở phiên họp, Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết, thủ tục thụ lý vụ việc, xác định tư cách những người tham gia tố tụng; Tòa án giao quyết định mở phiên họp và chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn; các văn bản tố tụng của Tòa án đều được tống đạt cho đương sự theo đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, về thời hạn xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự chưa đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình
- 2 -
theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ việc: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ và lời khai, bản tường trình của các đương sự cùng Phiếu kết quả phân tích AND số KQ 2413253 ngày 08/7/2024 của Công ty cổ phần dịch vụ Phân tích Di truyền – Chi nhánh phía Nam, đã có đủ cơ sở xác định giữa anh Lê Quang K và anh Lê Quang K1 có quan hệ huyết thống theo dòng mẹ. Cùng với các tài liệu như: Giấy khai sinh của anh Lê Quang K1, Trích lục đăng ký nhận cha, con giữa ông Lê Quang H và anh Lê Quang K; Kết quả xét nghiệm DNA huyết thống giữa ông Lê Quang H và anh Lê Quang K; Sổ hộ khẩu năm 2012; đã có đủ cơ sở xác định bà Lý Thị N là mẹ ruột của anh Lê Quang K. Căn cứ Điều 90, Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị chấp nhận yêu cầu của anh Lê Quang K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: anh Lê Quang K nộp đơn yêu cầu xác nhận bà Lý Thị N là mẹ ruột của anh K, anh K hiện cư trú tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, nên Tòa án xác định đây là việc hôn nhân và gia đình về “Yêu cầu xác định mẹ cho con”, Tòa án nhân dân quận Bình Tân thụ lý và giải quyết vụ việc là phù hợp với quy định tại khoản 10 Điều 29, điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nội dung giải quyết:
Xét các tài liệu chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ gồm:
Trích lục khai tử của bà Lý Thị N; Căn cước công dân mang tên Lê Quang K; Trích lục đăng ký nhận cha, con xác nhận đăng ký việc nhận cha, con giữa ông Lê Quang H và anh Lê Quang K; Kết quả xét nghiệm DNA huyết thống giữa ông Lê Quang H và anh Lê Quang K của Bệnh viện truyền máu huyết học với kết quả xác suất liên hệ cha con là 99,9999%; Sổ hộ khẩu năm 2012 trong đó chủ hộ là ông Lê Quang H, bà Lý Thị N là vợ, anh Lê Quang K1 là con; Giấy khai sinh của anh Lê Quang K1 có ghi cha mẹ là ông Lê Quang H và bà Lý Thị N;
Theo Phiếu kết quả phân tích AND số KQ 2413253 ngày 08/7/2024 của Trưng cầu Công ty cổ phần dịch vụ Phân tích Di truyền – Chi nhánh phía Nam (GENTIS HCM), địa chỉ: 8/24 Nguyễn Đình Khơi, phường 4, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa anh Lê Quang K và anh Lê Quang K1 “Hai người trên có quan hệ huyết thống theo dòng mẹ”.
Ông Lê Quang H và anh Lê Quang K1 nộp bản tự khai xác nhận toàn bộ lời trình bày và tài liệu do anh Lê Quang K cung cấp là đúng sự thật và đồng ý với yêu cầu của anh K.
Như vậy, với các tài liệu chứng cứ đã nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận bà Lý Thị N là mẹ ruột của anh Lê Quang K. Do đó, yêu cầu của anh Lê Quang K là có
- 3 -
căn cứ, được chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Lê Quang K chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 10 Điều 29, điểm t khoản 2 Điều 39, các Điều 369, 370, 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 90 và khoản 2 Điều 101 của Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Quang K.
Xác định bà Lý Thị N, sinh năm 1950, chết năm 2021, địa chỉ thường trú trước khi chết: 574/46 Đường Sin Co, Khu phố 12, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, là mẹ ruột của anh Lê Quang K.
Anh Lê Quang K có quyền và nghĩa vụ liên lệ với Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, để làm các thủ tục hộ tịch theo quy định của pháp luật.
2. Về lệ phí Tòa án: Lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do Lê Quang K chịu, Anh K đã đóng tạm nộp lệ phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền số 0011287 ngày 07 tháng 05 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Lê Quang K đã nộp đủ tiền lệ phí.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND Q. Bình Tân; - Đương sự; - UBND P. Bình Trị Đông B; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN Lê Quang Phong - 4 - |