- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Ông Đào Văn P với Bà Nguyễn Thị C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Ông Đào Văn P.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN NH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CH MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 99/2020/QĐST-DS | Tân Bình, ngày 05 tháng 5 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN NH, THÀNH PHỐ HỒ CH MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Tiến Quang.
Thư ký phiên họp: Bà Trịnh Thị Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Lê Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 531/2019/TLDS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2019 về việc “Yêu cầu Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số 09/2020/QĐ - MPH ngày 20 tháng 4 năm 2020 đối với ông Đào Văn K, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Đào Văn P, sinh năm 1952.
Địa chỉ: 1864B đường Q, phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu ngày 25/10/2019, bản tự khai ngày 06/12/2019 và lời trình bày của Ông Đào Văn P tại phiên họp:
Ông và bà Nguyễn Thị C chung sống vợ chồng, quá trình chung sống có con chung tên Đào Văn K, sinh năm 1982, nơi cư trú cuối cùng: 1864B đường Q, phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2001 ông K tự ý bỏ nhà đi đến nay không thấy trở về, ông đã nhiều lần liên lạc với người thân và bạn bè của Khoa để tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức. Lúc sinh sống ở nhà ông K chưa có vợ con.
Nay ông yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đào Văn K là đã chết để ông làm thủ tục hợp thức hóa nhà.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết và tại phiên họp, Thẩm phán và Thư ký đã làm đúng thủ tục tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân quận Tân Bình chấp nhận yêu cầu của Ông Đào Văn P, tuyên bố ông Đào Văn K là đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Ông Đào Văn P có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đào Văn K là đã chết. Trước khi bỏ đi, ông K cư trú tại địa chỉ: 1864B đường Q, phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quyền yêu cầu: Căn Cứ bản sao giấy khai sinh số 203, Quyển số 05, do ủy ban nhân dân xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cấp ngày 04/8/1982 thể hiện Ông P là cha ruột của ông K. Nay Ông P yêu cầu Tòa án tuyên bố ông K là đã chết để bà làm thủ tục hợp thức hóa nhà. Tòa án xét thấy, Ông P là người có quyền, lợi liên quan, nên ông có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông K là người đã chết, theo quy định tại khoản 1 Điều 391 Bộ luật tố tụng dân sự dân sự.
Về đương sự tham gia gia giải quyết việc tuyên bố ông K là đã chết. Tòa án xét thấy: Hàng thừa kế thứ nhất của ông K gồm cha, mẹ, vợ, và các con, nhưng theo lời trình bày và tài liệu, chứng cứ mà Ông P cung cấp thì mẹ ông K là bà Nguyễn Thị C đã chết (theo bản sao Trích giấy chứng tử số 153/TLKT-BS do Ủy ban nhân dân Phường 10, quận Tân Bình cấp ngày 25/02/2019). Khi bỏ đi ông K chưa có vợ con. Do đó, người tham gia giải quyết việc tuyên bố chết chỉ có Ông Đào Văn P.
Xét yêu cầu của Ông Đào Văn P yêu cầu tuyên bố ông Đào Văn K là đã chết, Tòa án xét thấy:
Theo lời trình bày của ông P thì ông K bỏ nhà đi vào năm 2001. Quá trình giải quyết, Ông P đã tìm kiếm, làm thủ tục đăng báo, đài theo quy định của pháp luật như: Đăng báo Lao Động, Đài tiếng nói Việt Nam, nhưng vẫn không không có tin tức gì về ông K.
Theo xác nhận ngày 16/10/2019 của Công an phường M, quận T thể hiện ông Đào Văn K, sinh năm 1982 có thường trú tại 1864B đường Q, phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2001 bỏ nhà đi, hiện tại không có tại địa phương.
Căn cứ nội dung sự việc, lời trình bày của Ông P, xác nhận của Công an phường M, quận T, Điều 71 và Điều 72 Bộ luật dân sự có cơ sở để xác định ông Đào Văn K là đã chết. Xét, yêu cầu của Ông P là có cơ sở nên chấp nhận.
Về ngày chết của ông K: Căn cứ khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015; căn cứ xác nhận ngày 16/10/2019 của Công an phường M, quận T cùng lời trình bày của Ông P thì không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng mà chỉ xác định được năm có tin tức cuối cùng của ông K là năm 2001. Vậy ngày biết được tin tức cuối cùng của ông K được xác định là ngày đầu tiên của năm tiếp theo, tức là ngày 01/01/2002. Do đó, ngày chết của ông K được xác định là ngày 02/01/2007.
Lệ phí sơ thẩm việc dân sự là 300.000đ do Ông Đào Văn P chịu.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, các Điều 367, 370, 371, 372, 391, 392 và 393 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 71 và Điều 72 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 35, Điều 36 và 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 cuûa UÛy ban thöôøng vuï Quoác hoäi ban haønh ngaøy 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu của Ông Đào Văn P.
Tuyên bố ông Đào Văn K, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú cuối cùng: 1864B đường Q, phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.
Ngày chết của ông Đào Văn K được xác định là ngày 02/01/2007.
Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Đào Văn K là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân, gia đình và quan hệ nhân thân khác của ông K được giải quyết như đối với người đã chết.
Quan hệ tài sản của ông K được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông K được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Đào Văn P phải chịu lệ phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí, lệ phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) do Ông Đào Văn P đã tạm nộp theo biên lai thu số 0039492 ngày 03/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp họ không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn đó được tính từ ngày họ nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định đó được niêm yết, thông báo.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Các quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự của đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND Q.Tân Bình; - Chi cục THADS Q.Tân Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Tiến Quang |