vanban.org

Quyết định 99/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Kiều M về việc yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Huỳnh Phương A;

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Kiều M được ly hôn với anh Huỳnh Phương A; Về con chung: Giao các con chung là Huỳnh Hoàng Diệu L– Sinh ngày 04/10/2012 và Huỳnh Hoàng Kim Y – Sinh ngày 10/6/2015 cho chị Hoàng Thị Kiều M được trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Kiều M về việc yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Huỳnh Phương A;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2020/HNGĐ- ST
Ngày 04/9/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT- TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diễm Hương;

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nông Hữu Dần;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Dũng;

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hà- Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà H Michan Niê- Chức vụ: Kiểm sát viên;

Ngày 04 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 167/2020/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hõa phiên tòa số 78/2020/QĐST- HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Kiều M- Sinh năm 1993 (Có mặt);

Địa chỉ: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;

* Bị đơn: Anh Huỳnh Phương A- Sinh năm 1979 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*/ Tại đơn khởi kiện, tại bản tự khai và tại phiên tòa chị Hoàng Thị Kiều M trình bày có nội dung:

Chị Hoàng Thị Kiều M và anh Huỳnh Phương A kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 16/02/2011; Vợ chồng đã có hai con chung là Huỳnh Hoàng Diệu L – Sinh ngày 04/10/2012 và Huỳnh Hoàng Kim Y – Sinh ngày 10/6/2015;

Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn gì. Tuy nhiên đến năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh A thường xuyên uống rượu về gây gổ, xúc phạm, đánh đập vợ con. Vợ chồng đã cố gắng khắc phục nhưng không thành. Cuộc sống chung không hạnh phúc nên từ năm 2016 đến nay vợ chồng đã sống ly thân, trong suốt thời gian sống ly thân anh A không có sự quan tâm, chăm sóc vợ con hay có mong muốn hàn gắn tình cảm. Nay chị M nhận thấy không còn tình cảm với anh A, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên chị có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Huỳnh Phương A.

Về con chung: Các con chung hiện đang ở cùng mẹ nên chị Hoàng Thị Kiều M có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung Huỳnh Hoàng Diệu L và Huỳnh Hoàng Kim Y đến tuổi trưởng thành;

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về tài sản chung: Chị M xác định không có tài sản chung nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn anh A nhiều lần nhưng anh A vẫn không đến Tòa án giải quyết; nên không ghi được lời khai cũng như tiến hành hòa giải được;

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự;

- Về nội dung vụ án: Xét thấy chị Hoàng Thị Kiều M và anh Huỳnh Phương A tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; quá trình chung sống đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, mặc dù đã hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Huỳnh Phương A là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị Kiều M về việc yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Huỳnh Phương A. Về con chung: Giao các con chung là Huỳnh Hoàng Diệu L- Sinh ngày 04/10/2012 và Huỳnh Hoàng Kim Y- Sinh ngày 10/6/2015 cho chị Hoàng Thị Kiều M trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Chị M xác định không có tài sản chung nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Kiều M có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Huỳnh Phương A có nơi cư trú tại thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thủ tục tố tụng: Xét thấy bị đơn anh Huỳnh Phương A đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Kiều M và anh Huỳnh Phương A tự nguyện chung sống, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình duy trì hôn nhân, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh ngày càng căng thẳng và đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay.

Kết quả xác minh tại địa phương thể hiện mâu thuẫn vợ chồng chị M, anh A phát sinh đã lâu, tình trạng trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Như vậy, hôn nhân giữa chị M và anh A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận nguyện vọng ly hôn của chị Hoàng Thị Kiều M là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Các con chung Huỳnh Hoàng Diệu L– Sinh ngày 04/10/2012 và Huỳnh Hoàng Kim Y– Sinh ngày 10/6/2015 hiện đang do chị Mai trực tiếp nuôi dưỡng, chị M có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến tuổi trưởng thành; cháu Huỳnh Hoàng Diệu L có nguyện vọng được ở với mẹ; do đó cần giao các con chung Huỳnh Hoàng Diệu L– Sinh ngày 04/10/2012 và Huỳnh Hoàng Kim Y– Sinh ngày 10/6/2015 cho chị Hoàng Thị Kiều M trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Anh Huỳnh Phương A có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;

- Về tài sản chung: Chị M xác định không có tài sản chung nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;

- Về án phí: Chị Hoàng Thị Kiều M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Kiều M về việc yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Huỳnh Phương A;

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Kiều M được ly hôn với anh Huỳnh Phương A;

- Về con chung: Giao các con chung là Huỳnh Hoàng Diệu L– Sinh ngày 04/10/2012 và Huỳnh Hoàng Kim Y – Sinh ngày 10/6/2015 cho chị Hoàng Thị Kiều M được trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành;

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M không đặt ra yêu cầu giải quyết;

Anh Huỳnh Phương A có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Chị M xác định không có tài sản chung nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;

- Về án phí: Chị Hoàng Thị Kiều M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà chị Hoàng Thị Kiều M đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0007518 ngày 05 tháng 3 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;

Nguyên đơn chị Hoàng Thị Kiều M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án.

Bị đơn anh Huỳnh Phương A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thị hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ