vanban.org

Quyết định 99/2019/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 10/04/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N. Tuyên bố: Ông Kiều Hiểu L sinh năm 1955, nơi cư trú cuối cùng: Đường U, Phường A, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh đã chết ngày 02/5/1993. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "tuyên bố ông L là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_______________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 99/2019/QĐDS-STQuận 10, ngày 10 tháng 4 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần việc giải quyết việc dân sự gồm có:

Chủ tọa phiên họp: Bà Mai Hiếu Hạnh – Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 451/2018/TLST-DS ngày 21 tháng 9 năm 2018 về yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số: 04/2019/QĐST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2019.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1957

Thường trú: Đường O, Phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn H, GUQ ngày 04/4/2019.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Kiều Hiểu Lệ N1, sinh năm 1976.

- Bà Kiều Thị Diễm H, sinh năm 1977.

- Bà Kiều Ánh X, sinh năm 1980 (đã chết)

- Ông Kiều Thanh H1, sinh năm 1988.

Cùng Thường trú: Đường O, Phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí

Minh.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu tuyên bố ông

Kiều Hiểu L, sinh năm 1955, nơi cư trú cuối cùng: Đường U, Phường A, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ông Kiều Hiểu L có vợ là bà Nguyễn Thị N chung sống với nhau từ năm 1975. Trong quá trình chung sống đến năm 1987, hai ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn và ông L đã bỏ đi từ tháng 04/1988. Đến thời điểm này, gia đình cũng không có tin tức gì về việc ông L còn sống.

Nay để ổn định đời sống gia đình nên bà Nguyễn Thị N có đơn gửi Tòa án nhân dân Quận 10 yêu cầu tuyên bố ông Kiều Hiểu L là đã chết.

Tại các bản tự khai, bà Nguyệt và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu tuyên bố ông Kiều Hiểu L là đã chết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên họp có ý kiến như sau: Căn cứ vào khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Tòa án nhân dân Quận 10 chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N, tuyên bố ông Kiều Hiểu L, sinh năm 1955, nơi cư trú cuối cùng: Đường U, Phường A, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện của Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về quan hệ giữa các đương sự:

Căn cứ vào trích lục khai sinh của bà Kiều Hiểu Lệ N sinh năm 1976, giấy khai sinh của bà Kiều Thị Diễm H sinh năm 1977, bà Kiều Ánh X sinh năm 1982, ông Kiều Thanh H1 sinh năm 1988 được Ủy ban nhân dân Quận 10 cấp xác định ông Kiều Hiểu L và bà Nguyễn Thị N thực tế có chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn cho đến khi ông L vắng mặt tại nơi cư trú.

Nên bà Nguyễn Thị N có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Kiều Hiểu L là đã chết theo quy định tại khoản 1 Điều 391 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Bà Nguyễn Thị N yêu cầu tuyên bố ông Kiều Hiểu L là đã chết. Ông L có nơi cư trú tại Quận 10, nên yêu cầu của bà N là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Huỳnh Văn H - đại diện theo ủy quyền của bà N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà N1, bà H, ông H1) có đơn yêu cầu vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu của đương sự:

3.1 Từ ngày 28/11/2018 Báo Tuổi trẻ, Đài Tiếng nói Việt Nam, Cổng thông tin điện tử của Tòa án và trang web của Sở Thông tin và Truyền thông Thành phố Hồ Chí Minh đã đăng, phát thông báo tìm kiếm thông tin về ông Kiều Hiểu L nhưng cho đến nay đã hơn bốn tháng mà không có tin tức xác thực về ông L.

3.2 Căn cứ xác nhận ngày 11/4/2006 của Ủy ban nhân dân Phường 3,

Quận 10 và xác nhận ngày 26/01/2016 của Công an Phường 3, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và lời trình bày của người yêu cầu, người có liên quan, Tòa án có cơ sở xác định trước tháng 4/1988, ông Kiều Hiểu L cư trú tại đường U, Phường A, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông L đã biệt tích từ năm 1988 cho đến nay đã hơn 05 (năm) năm liền và không có tin tức xác thực là còn sống. Do vậy, việc bà Nguyễn Thị N yêu cầu tuyên bố ông L đã chết là phù hợp với điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự nên Tòa án chấp nhận.

3.3 Ngày biết tin tức cuối cùng của ông Kiều Hiểu L là tháng 4/1988. Căn

cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 của Bộ luật dân sự, Tòa án xác định ngày chết của ông L là ngày 02/5/1993.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự:

Bà Nguyễn Thị N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng. Tuy nhiên bà N thuộc trường hợp miễn nộp án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên bà N không phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 143; 144; khoản 1 Điều 149; 391; 392 và 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 68 và điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự.

-Căn cứ khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N.

Tuyên bố: Ông Kiều Hiểu L sinh năm 1955, nơi cư trú cuối cùng: Đường U, Phường A, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh đã chết ngày 02/5/1993.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật, thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; Tài sản của người bị tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế

Bà Nguyễn Thị N không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

Kể từ ngày Tòa án ra quyết định, người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày; Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày./.

Cỡ chữ