- Tranh chấp gì? "đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy đối với Phạm Trung T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Trung T
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH T NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:98/QĐ-TA | G, ngày 24 tháng 12 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH T NINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Đỗ Ngọc Vinh.
2. Thư ký phiên họp: Ông Lê Minh Nhựt Quang
Ngày 24 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện G, tỉnh T Ninh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Thông báo dời phiên họp số: 01/QĐ-TA ngày 13/12/2024 đối với:
Họ và tên người bị đề nghị: Phạm Trung T (tên gọi khác N), sinh ngày 30/4/1990; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nguyên quán: tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Không; Tiền án: Không có;
Về tiền sự: Ngày 29/7/2024 Công an xã H ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính số: 27/QĐ-XHHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Phạt tiền 1.500.000đ (đã chấp hành xong).
Người bị đề nghị vắng mặt.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Bùi Văn Tám– Phó Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G, tỉnh T Ninh, có mặt.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G: Ông Lâm Quốc Bảo- Kiểm sát viên, có mặt.
NHẬN THẤY:
Anh Phạm Trung T là đối tượng nghiện ma túy, anh T khai nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần, bắt đầu từ năm 2021. Ngày 29/7/2024 Công an xã H ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính số: 27/QĐ-XHHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Phạt tiền 1.500.000đ (anh T đã chấp hành xong). Cùng ngày Chủ tịch UBND xã H đã ban hành Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với anh Phạm Trung T thời hạn 01 năm kể từ ngày 29/7/2024.
Ngày 01/11/2024, Công an xã H tiến hành kiểm tra xét nghiệm test nhanh chất ma túy trong cơ thể anh T, kết luận: Anh T dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine. Tại đây, anh T thừa nhận có sử dụng ma tuý trước đó vào ngày 24/10/204 nên Công An H đã lập biên bản vi phạm hành chính, đồng thời có văn bản đề nghị Trung tâm Y tế huyện G xác định tình trạng nghiện ma túy đối với anh T.
Tại phiếu kết quả ngày 04/11/2024, Trung tâm Y tế huyện G xác định anh T nghiện ma túy loại Methamphetamine.
Do anh Phạm Trung T vi phạm không thực hiện các biện pháp đăng ký cai nghiện tại gia đình. Ngày 26/11/2024 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H ban hành Quyết định dừng quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với anh T và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa anh PhạmTrung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 29/12/2024, Phòng lao động Thương binh và Xã hội huyện G có Công văn số 232/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh T Ninh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Trung T.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G tỉnh T Ninh: Đề nghị đưa anh PhạmTrung T vào Cơ sở cai nghiện ma túy trong thời hạn từ 12 đến 15 tháng.
Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên họp:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký tiến hành phiên họp; Người bị đề nghị, cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và quy định của pháp luật liên quan.
Về nội dung: Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, Điều 9 Nghị quyết 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Anh Phạm Trung T, sinh năm 1990 (trên 18 tuổi), có nơi cư trú ổn định, là người nghiện ma túy. Như vậy, anh Phạm Trung T thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.
Về thời hạn áp dụng: Anh Phạm Trung T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020. Trong quá trình giải quyết anh tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Vì vậy đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Trung T, thời hạn từ 12 tháng đến 15 tháng.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc và đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào ý kiến đề xuất của những người tham gia phiên họp, nhận thấy:
Về hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị được lập đúng và đủ thành phần theo quy định tại Điều 40 và Điều 41 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy; Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm hành chính và còn thời hiệu để áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính nên việc họp xét hồ sơ là đúng theo quy định.
Về nội dung họp xét: Trong hồ sơ thể hiện anh Phạm Trung T là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định tại ấp T, xã H, huyện G, tỉnh T Ninh. Anh T đang bị áp dụng biện pháp cai nghiện tại gia đình và cộng đồng thời hạn 01 năm kể từ ngày 29/7/2024. Tuy nhiên, anh T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý, không thực hiện việc cai nghiện tự nguyện đồng thời gia đình có đơn yêu cầu đưa anh T đi cai nghiện bắt buộc. Như vậy, anh T thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Do đó, Đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Trung T là có căn cứ, nên chấp nhận.
Để đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tránh phát sinh các tệ nạn khác tại địa phương, đồng thời tạo điều kiện cho anh T có thời gian cai nghiện nên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Trung T một thời gian nhất định là cần thiết và đúng quy định. Tuy nhiên, khi quyết định thời gian cai nghiện đối với anh T cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình giải quyết, anh T tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Tình tiết tăng nặng: Anh PhạmTrung T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên họp là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 3; Khoản 2 Điều 5; điểm b khoản 2 Điều 6; điểm b Khoản 1 Điều 10; Điều 95; Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020, Luật phòng chống ma túy năm 2021, Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy;
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Phạm Trung T
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Tên cơ sở cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tây Ninh. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T Ninh.
4. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện G có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
5. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
6. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện G, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện G, Cơ sở cai nghiện ma túy có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Phòng LĐTBXH huyện G; - Viện kiểm sát huyện G; - Công an huyện G; - Cơ sở cai nghiện ma túy; - UBND xã H - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đỗ Ngọc Vinh |