vanban.org

Quyết định 98/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 25/12/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Lại V H .

Tuyên bố chị Lại T H, sinh năm 1982,( HKTT: Thôn Đông, xã Vân Nội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) mất năng lực hành vi dân sự. Bà Nguyễn T H – Là người giám hộ và là người đại diện theo pháp luật của chị Lại T H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Lại V H .
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 98 /2020/QĐST-DS
Ngày: 25/12/2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: "Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự".

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Vũ Thị Nguyệt - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Cao Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Ba Đình .

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 94/2020/TLST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2020 về việc "Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự" theo Quyết định mở phiên họp số: 407/2020/QĐST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Anh Lại V H – sinh năm 1985

HKTT: Thôn Đ, xã VN, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Hiện trú tại phòng 4xx, nhà B, khu 2,1ha phường CV, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Có mặt

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn T H – sinh năm 1961

Anh Lại V T- sinh năm 1989. HKTT và hiện trú tại : Thôn Đ, xã VN, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Bà Hợp và anh Tùng vắng mặt

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Anh Lại V H yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lại T H, sinh năm 1982, ĐKHKTT: Thôn Đ, xã VN, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Hiện trú tại phòng 4xx, nhà B, khu 2,1ha phường CV, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Lại V H yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lại T H mất năng lực hành vi dân sự, đây là yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 27 BLTTDS nên Tòa án nhân dân quận Ba Đình có thẩm quyền giải quyết việc dân sự trên theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Kể từ khi sinh ra chị H đã có biểu hiện của bệnh Dow. Về thể lực chị H phát triển bình thường như các trẻ nhỏ khác tuy nhiên trí tuệ tinh thần chị H không phát triển. Gia đình xác định chị H không có khả năng nhận thức nên không cho chị H đi học. Chị H không biết chữ, nhận thức xã hội rất kém, không có khả năng lao động. Mọi công việc kể cả sinh hoạt cá nhân cũng cần có người đôn đốc giúp đỡ. Hiện tại chị H vẫn chưa kết hôn sống hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc và giúp đỡ của người thân.

Từ nhỏ đến nay do hoàn cảnh khó khăn nên gia đình đưa đối tượng đi điều trị khám chữa bệnh ở cơ sở y tế nào, cũng chưa được hưởng trợ cấp xã hội.

Anh Lại V H yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lại T H mất năng lực hành vi dân sự.

Quá trình giải quyết bà Nguyễn T H (mẹ của chị H), anh Lại V T (em trai của chị H) hoàn toàn nhất trí với nội dung anh Lại V H yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lại T H mất năng lực hành vi dân sự và thỏa thuận bà Nguyễn T H là người giám hộ, đại diện theo pháp luật của chị H anh Lại V T là người giám sát việc giám hộ.

Tại Kết luận giám định sức khỏe tâm thần số: 151/2020/KLGĐ ngày 20/11/2020 của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương kết luận: "Tại thời điểm giám định đối tượng Lại T H bị bệnh chậm phát triển tâm thần nặng. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã F72. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại phiên họp anh Lại V H (là em trai chị Lại T H ) giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lại T H mất năng lực hành vi dân sự.

* Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đơn yêu cầu cho đến khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thủ tục giải quyết việc dân sự. Thư ký thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn; người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp luật quy định.

- Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 27, Điều 361, Điều 369, 370, 371, 372, khoản 1 Điều 376, 378 của BLTTDS; Điều 22, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 57, khoản 1 Điều 58, khoản 1 Điều 59 của Bộ luật dân sự. Đề nghị Tòa án nhân dân quận Ba Đình chấp nhận yêu cầu của anh Lại V H, tòa án tuyên bố chị Lại T H mất năng lực hành vi dân sự; bà Nguyễn T H là người giám hộ đồng thời là người đại diện theo pháp luật của chị Lại T H; anh Lại V T là người giám sát việc giám hộ.

Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của anh Lại V H về việc tuyên bố chị Lại T H mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 376 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 22 Bộ luật dân sự.

Về nghĩa vụ chịu lệ phí: Căn cứ Khoản 1 Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (mục 1 phần I Danh mục lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016): Anh Lại V H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 22, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 57, khoản 1 Điều 58, khoản 1 Điều 59 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 27; Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39, Khoản 1 Điều 149, Điều 361, 370, 371, 372, Khoản 1 Điều 376, Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Lại V H .

Tuyên bố chị Lại T H, sinh năm 1982,( HKTT: Thôn Đông, xã Vân Nội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) mất năng lực hành vi dân sự.

2.Bà Nguyễn T H – Là người giám hộ và là người đại diện theo pháp luật của chị Lại T H.

Bà Nguyễn T H được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Người giám hộ và Người đại diện theo pháp luật cho chị Lại T H theo quy định của Bộ luật dân sự.

Anh Lại V T là người giám sát việc giám hộ.

3. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Lại V H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 24853 ngày 13/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình. Anh Lại V H đã nộp đủ tiền lệ phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu và người giám hộ của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến yêu cầu có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ