- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "tuyên bố một người là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Trương Tô.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 98/2020/QĐST-DS | QUẬN S, ngày 14 tháng 8 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hồng Nam
Thư ký phiên họp: Bà Trịnh Thị Thơi – Thư ký Tòa án nhân dân QUẬN S.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân QUẬN S tham gia phiên họp: Ông Võ Văn Tánh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân QUẬN S – Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 12/2020/TLST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 14/2020/QĐST- DS ngày 03 tháng 8 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1941;
Địa chỉ: số 108 Đường số 72, Phường 10, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trần Văn T (theo văn bản ủy quyền ngày 26/02/2020).
Địa chỉ: 108 Đường số 72, Phường 10, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với: Ông Trần Văn Ph, sinh năm 1971.
Nơi cư trú cuối cùng: 57G Cư xá Phú Lâm D, Đường Lý Chiêu Hoàng, Phường 10, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Trần Văn M, sinh năm 1963;
2/ Ông Trần Văn Thô, sinh năm 1965;
3/ Bà Trần Thị T, sinh năm 1967;
4/ Ông Trần Văn T, sinh năm 1968;
5/ Bà Trần Thị S, sinh năm 1973.
Cùng địa chỉ: 108 Đường số 72, Phường 10, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của các ông/bà Man, Thông, Tư, Sáu: Ông Trần Văn T (theo văn bản ủy quyền ngày 26/02/2020).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn yêu cầu và các bản tự khai, người yêu cầu bà Nguyễn Thị Th – có ông Trần Văn T là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Ông Trần Văn Ph, sinh năm 1971 có cha là ông Trần Văn Minh (chết năm 2013), mẹ là bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1941. Ông Trần Văn Ph không có vợ con; Các anh chị em ruột của ông Phát gồm: Ông Trần Văn M, ông Trần Văn Thô, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T, bà Trần Thị S, ông Trần Văn Sơn (đã chết năm 2011) hiện đang cư trú tại địa chỉ 108 Đường số 72, Phường 10, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Trần Văn Ph, sinh năm 1971; nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ 57G Cư xá Phú Lâm D, Đường Lý Chiêu Hoàng, Phường 10, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ năm 1973 đến nay, ông Trần Văn Ph đi đâu không rõ, vắng mặt tại nơi cư trú và không liên lạc với gia đình (thời điểm đó ông Phát chỉ mới 02 tuổi). Mặc dù gia đình đã áp dụng các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định pháp luật nhưng vẫn không tìm thấy tin tức của ông Phát. Do đó, bà đề nghị Tòa án tuyên bố ông Phát là đã chết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông/bà Trần Văn M, Trần Văn Thô, Trần Thị T, Trần Văn T, Trần Thị S có ông Trần Văn T là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Từ khi ông Phát bị thất lạc với gia đình, gia đình đã áp dụng các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định pháp luật nhưng vẫn không tìm thấy tin tức của ông Phát, không rõ ông Phát còn sống hay đã chết. Trước yêu cầu của bà Nguyễn Thị Th yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Văn Ph là đã chết, ông đồng ý, không có ý kiến gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân QUẬN S phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý hồ sơ và tại phiên họp, Thẩm phán - chủ tọa phiên họp đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu Tòa án chưa thực hiện đúng các quy định về thời hạn theo quy định tại Điêu 392 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Th về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Văn Ph, sinh năm 1971, địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: 57G Cư xá Phú Lâm D, Đường Lý Chiêu Hoàng, Phường 10, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân QUẬN S- Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Yêu cầu về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại tờ khai gia đình do Đô thành – Sài Gòn (chế độ cũ Việt Nam Cộng hòa) cấp ngày 24/10/1973 có tên ông Trần Văn Ph, sinh năm 1971 tại địa chỉ 57 (Lô G) Cư xá Phú Lâm D, Đường Lý Chiêu Hoàng, phường Bình Phú, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là 57G Cư xá Phú Lâm D, Đường Lý Chiêu Hoàng, Phường 10, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh). Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 yêu cầu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về sự vắng mặt của các đương sự
Ông Trần Văn T – Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Th có đơn xin vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự. Do đó, Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của đương sự:
Xét, Tại tờ khai gia đình do chế đỗ cũ cấp ngày 24/10/1973 thể hiện ông Trần Văn Ph là con của ông Trần Văn Minh và bà Nguyễn Thị Th. Như vậy, bà Thơm có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Văn Ph là đã chết theo quy định tại Khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Th cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì cha mẹ của ông Trần Văn Ph là là Trần Văn Minh (chết năm 2013), mẹ là bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1941. Ông Trần Văn Ph không có vợ con; Các anh chị em ruột của ông Phát gồm: Ông Trần Văn M, ông Trần Văn Thô, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T, bà Trần Thị S, ông Trần Văn Sơn (đã chết năm 2011).
Ông Trần Văn Ph có cư trú tại địa chỉ 57 (Lô G) Cư xá Phú Lâm D, Đường Lý Chiêu Hoàng, phường Bình Phú, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là 57G Cư xá Phú Lâm D, Đường LCH, Phường 10, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh) từ năm 1971 đến năm 1973. Từ năm 1973 cho đến nay ông Phát đã thất lạc với gia đình, đi đâu không rõ. Tất cả mọi người trong gia đình đều không biết được tin tức nào của ông Trần Văn Ph. Do đó bà Nguyễn Thị Th đề nghị Tòa án tuyên bố ông Trần Văn Ph đã chết.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Trần Văn M, ông Trần Văn Thô, bà Trần Thị T, ông Trần Văn T, bà Trần Thị S có ông Trần Văn T là người đại diện theo ủy quyền cùng thống nhất với ý kiến và yêu cầu của bà Nguyễn Thị Th, cùng đề nghị Tòa án tuyên bố ông Trần Văn Ph là đã chết.
Căn cứ vào công văn số 3834/CAQ-QLHC ngày 05/8/2020 của Công an QUẬN S có nội dung “…trong hồ sơ có Tờ khai gia đình do chế độ cũ cấp ngày 24/10/1973 có tên ông Trần Văn Ph, sinh năm 1971 đã bị xóa tên, không rõ lý do xóa tên...”. Do đó, có cơ sở xác định nơi cư trú cuối cùng của ông Trần Văn Ph là 57G Cư xá Phú Lâm D, Đường Lý Chiêu Hoàng, Phường 10, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ năm 1973 đến nay, ông Trần Văn Ph đi đâu không rõ, vắng mặt tại nơi cư trú và không liên lạc với gia đình.
Ngày 25/02/2020, Tòa án nhân dân QUẬN S đã ban hành Quyết định số 03/2020/QĐ-TA thông báo tìm kiếm thông tin người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với ông Trần Văn Ph, đăng trên Báo Lao Động trong ba số liên tiếp (ngày 09/3/2020, 10/3/2020, ngày 11/3/2020) và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam trong 3 ngày liên tiếp (ngày 08/3/2020, 09/3/2020, ngày 10/3/2020), nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của ông Trần Văn Ph.
Như vậy, ông Trần Văn Ph đã đi biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống nên theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự 2015, Tòa án nhân dân QUẬN S có đủ cơ sở tuyên bố ông Trần Văn Ph đã chết.
Về ngày chết của ông Trần Văn Ph:
Căn cứ vào công văn số 3834/CAQ-QLHC ngày 05/8/2020 của Công an QUẬN S có nội dung “…trong hồ sơ có Tờ khai gia đình do chế độ cũ cấp ngày 24/10/1973 có tên ông Trần Văn Ph, sinh năm 1971 đã bị xóa tên, không rõ lý do xóa tên...” cùng lời khai của các đương sự thể hiện ông Trần Văn Ph không còn cư trú tại địa phương từ năm 1973. Căn cứ vào khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự thì năm có tin tức cuối cùng của ông Trần Văn Ph là 1973. Do vậy, ngày chết của ông Trần Văn Ph được xác định là ngày 01/01/1974.
Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Trần Văn Ph:
Theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì:
Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Trần Văn Ph là đã chết có hiệu lực pháp luật thì các quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ khác về nhân thân của ông Trần Văn Ph được giải quyết như đối với một người là đã chết. Quan hệ tài sản của ông Trần Văn Ph được giải quyết như đối với một người là đã chết; tài sản của ông Trần Văn Ph được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Th là người cao tuổi và có đơn xin miễn lệ phí nên được miễn lệ phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 367, 370, 371, 372, 385, 391, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị Th:
- Tuyên bố ông Trần Văn Ph, sinh năm 1971; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 57G Cư xá Phú Lâm D, Đường Lý Chiêu Hoàng, Phường 10, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.
- Ngày chết của ông Trần Văn Ph là ngày 01 tháng 01 năm 1974.
- Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Trần Văn Ph là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Trần Văn Ph được giải quyết như đối với người đã chết.
- Quan hệ tài sản của ông Trần Văn Ph được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Trần Văn Ph được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2. Về lệ phí: bà Nguyễn Thị Th được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.
3. Các đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đương sự vắng mặt tại phiên họp, được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP -Tòa án nhân dân TPHCM; -Viện kiểm sát nhân dân QUẬN S; -Chi cục Thi hành án dân sự QUẬN S; -Các đương sự (để thi hành);
- Ủy ban nhân dân Phường 10, QUẬN S.
Nguyễn Hồng Nam -Lưu. TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
Số: 594/2018/QĐST-DS
QUẬN S, ngày 18 tháng 10 năm 2018
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lại Thị Bình Minh.
Thư ký phiên họp: Bà Đinh Thị Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân QUẬN S Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân QUẬN S Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 200/2018/TLST-DS ngày 27/03/2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số 459/2018/QĐST-DS ngày 09/10/2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Ông Trương Tô, sinh năm 1947.
Địa chỉ: 283/13 Phạm Văn Chí, Phường 3, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Cam Toàn, sinh năm 1985.
Địa chỉ: 283/13 Phạm Văn Chí, Phường 3, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bị yêu cầu:
Bà Âu Muối, sinh năm 1960.
Địa chỉ: 283/13 Phạm Văn Chí, Phường 3, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trương Hà Tử, sinh năm 1944.
Địa chỉ: 283/13 Phạm Văn Chí, Phường 3, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bà Trương Muối Tử, sinh năm 1949.
Địa chỉ: 32/19/26 Ông Ích Khiêm, Phường 14, Quận 11, Thành phố Hồ Chí
Minh.
3. Bà Trương Nữ, sinh năm 1954.
Địa chỉ: 283/13 Phạm Văn Chí, Phường 3, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Ông Âu Xú Há, sinh năm 1956.
Địa chỉ: 283/13 Phạm Văn Chí, Phường 3, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Bà Âu Ngân Linh, sinh năm 1964.
Địa chỉ: 283/13 Phạm Văn Chí, Phường 3, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Tất cả các đương sự xin vắng mặt tại phiên họp).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Người yêu cầu Ông Trương Tô có đại diện theo ủy quyền ông Trương Cam Toàn trình bày: Ông Âu Tường, sinh năm 1922, chết năm 1983 và vợ là bà Trương Muối, sinh năm 1922, chết năm 1995 có 07 người con tên:
- Ông Trương Hà Tử, sinh năm 1944.
- Ông Trương Tô, sinh năm 1947.
- Bà Trương Muối Tử, sinh năm 1949.
- Bà Trương Nữ, sinh năm 1954.
- Ông Âu Xú Há, sinh năm 1956.
- Bà Âu Muối, sinh năm 1960.
- Bà Âu Ngân Linh, sinh năm 1964.
Bà Âu Muối có đăng ký hộ khẩu thường trú tại 283/13 Phạm Văn Chí, Phường 3, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 01/10/1976 đến năm 1988. Từ ngày 07/10/1988 cho đến nay bà Âu Muối đã bỏ nhà đi đâu không rõ. Bà Âu Muối bị bệnh tâm thần, trước khi bỏ đi không có chồng con gì. Tất cả mọi người trong gia đình đều không biết được tin tức nào của bà Âu Muối. Do đó ông Trương Tô đề nghị Tòa án tuyên bố bà Âu Muối đã chết.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông bà Trương Hà Tử, Trương Tô, Trương Muối Tử, Trương Nữ, Âu Xú Há, Âu Ngân Linh cùng thống nhất với ý kiến và yêu cầu của ông Trương Tô, cùng đề nghị Tòa án tuyên bố bà Âu Muối đã chết. Các ông bà xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân QUẬN S Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Yêu cầu về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Âu Muối có nơi cư trú cuối cùng tại 283/13 Phạm Văn Chí, Phường 3, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 yêu cầu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Trương Tô có đại diện theo ủy quyền là ông Trương Cam Toàn, ông Trương Hà Tử, bà Trương Muối Tử, bà Trương Nữ, ông Âu Xú Há, bà Âu Ngân Linh có đơn xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết việc dân sự. Do đó Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào đơn yêu cầu của ông Trương Tô thì cha mẹ của ông là ông Âu Tường, sinh năm 1922, chết năm 1983 và bà Trương Muối, sinh năm 1922, chết năm 1995 có 07 người con tên: Trương Hà Tử, Trương Tô, Trương Muối Tử, Trương Nữ, Âu Xú Há, Âu Muối, Âu Ngân Linh.
Bà Âu Muối có đăng ký hộ khẩu thường trú tại 283/13 Phạm Văn Chí, Phường 3, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 01/10/1976 đến năm 1988. Từ ngày 07/10/1988 cho đến nay bà Âu Muối đã bỏ nhà đi đâu không rõ. Bà Âu Muối bị bệnh tâm thần, trước khi bỏ đi không có chồng con gì. Tất cả mọi người trong gia đình đều không biết được tin tức nào của bà Âu Muối. Do đó ông Trương Tô đề nghị Tòa án tuyên bố bà Âu Muối đã chết.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông bà Trương Hà Tử, Trương Tô, Trương Muối Tử, Trương Nữ, Âu Xú Há, Âu Ngân Linh cùng thống nhất với ý kiến và yêu cầu của ông Trương Tô, cùng đề nghị Tòa án tuyên bố bà Âu Muối đã chết.
Căn cứ vào xác nhận của Ban chỉ huy Công an Phường 3, QUẬN S thì bà Âu Muối có hộ khẩu thường trú tại 283/13 Phạm Văn Chí, Phường 3, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 01/10/1976 đến năm 1988, từ ngày 7/10/1988 bị xóa hộ khẩu, lý do bỏ địa phương đi đâu không rõ.
Ngày 10/4/2018 Tòa án nhân dân QUẬN S đã ban hành Quyết định số 200/2018/QĐ-TA thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với bà Âu Muối, đăng trên báo Lao động trong ba số liên tiếp (số 99 ngày 18/3/2018, số 100 ngày 19/3/2018, số 101 ngày 20/3/2018) và phát sống trên Đài tiếng nói Việt Nam trong 3 ngày liên tiếp (ngày 04, 05, 06/6/2018), nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của bà Âu Muối.
Như vậy có đủ cơ sở xác định bà Âu Muối biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. Vì vậy yêu cầu của ông Trương Tô và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Âu Muối đã chết là phù hợp với điểm d, khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
Về việc xác định ngày chết của bà Âu Muối:
Thời điểm biết được tin tức cuối cùng của bà Âu Muối là năm 1988, không xác định được ngày tháng cụ thể có tin tức cuối cùng. Do đó theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ngày xác định bà Âu Muối chết được tính là ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng. Như vậy xác định ngày chết của bà Âu Muối là ngày 01 tháng 01 năm 1989.
Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết: Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà Âu Muối được giải quyết như đối với người đã chết theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015 khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật.
Về lệ phí: Ông Trương Tô phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân QUẬN S phát biểu ý kiến: Về trình tự, thủ tục tố tụng đều tuân thủ quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Trương Tô và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tuyên bố bà Âu Muối là đã chết theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 68, điểm d, khoản 1 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Trương Tô.
Tuyên bố bà Âu Muối, sinh năm 1960, có nơi cư trú cuối cùng tại 283/13 Phạm Văn Chí, Phường 3, QUẬN S, Thành phố Hồ Chí Minh đã chết.
Ngày chết của bà Âu Muối là ngày 01 tháng 01 năm 1989.
Khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Âu Muối đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà Âu Muối được giải quyết như đối với người đã chết.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Trương Tô phải chịu lệ phí là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số 0028990 ngày 27/3/2018 của Chi cục Thi hành án QUẬN S. Ông Trương Tô đã nộp đủ lệ phí.
- Ông Trương Tô, ông Trương Hà Tử, bà Trương Muối Tử, bà Trương Nữ, ông Âu Xú Há, bà Âu Ngân Linh có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết quyết định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND QUẬN S; - Chi cục THADS Q6; - Các đương sự. - Lưu VP, hồ sơ. | TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S THẨM PHÁN Lại Thị Bình Minh |