vanban.org

Quyết định 97/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đào Văn T có căn cước lý lịch nêu trên.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Đào Văn T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đào Văn T có căn cước lý lịch nêu trên.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 19 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 97/QĐ-TAThủy Nguyên, ngày 27 tháng 8 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Lê Thị Hồng Lý.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mai.

Ngày 27 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 98/QĐ-TA ngày 20 tháng 8 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Đào Văn T ;

Giới tính: Nam;

Sinh ngày 30 tháng 4 năm 1975;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 6/12;

Nguyên quán: Xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng;

Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng;

Chỗ ở: Thôn T, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng;

Tiền án: Không; tiền sự: Quyết định số 23B/QĐ-UBND ngày 12 tháng 4 năm 2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã D, huyện T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng.

Con ông Đào Văn D và bà Vũ Thị K .

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Hương Thảo, Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Thủy Nguyên (Giấy ủy quyền ngày 02 tháng 01 năm 2020 của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên: Bà Bùi Thị Yến, Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Đào Văn T khai sử dụng ma túy từ năm 2010 đến nay. Vào hồi 10 giờ ngày 14 tháng 7 năm 2020 T sang khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng mua của một người không quen biết một gói ma túy với giá 100.000 đồng rồi mang về nhà sử dụng. Đến 14 giờ cùng ngày công an xã D yêu cầu T lên trụ sở công an xã để làm việc. Tại đây T đã thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng chất ma túy của mình. Kết quả xét nghiệm xác định Đào Văn T dương tính với Morphine.

Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Thủy Nguyên phát biểu ý kiến: Kiểm tra hồ sơ đã đầy đủ các tài liệu chứng minh điều kiện cần thiết để đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đào Văn T .

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

XÉT THẤY:

Đào Văn T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản nhưng vắng mặt tại phiên họp không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 19 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

Đào Văn T đã sử dụng ma túy từ năm 2010; có nơi cư trú và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng theo Quyết định số 23B/QĐ-UBND ngày 12 tháng 4 năm 2020 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã D , huyện T, thành phố Hải Phòng. Hồ sơ đề nghị đưa Đào Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính. Đào Văn T đã nhận thức được việc tự ý sử dụng ma túy khi không được cơ quan có thẩm quyền cho phép là vi phạm pháp luật. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đào Văn T trực tiếp xâm phạm đến quy định của pháp luật về kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy. Tuy chưa đến mức là tội phạm nhưng vẫn là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gây nguy hại cho sức khỏe thể chất, tâm thần và làm khánh kiệt tài sản của chính người sử dụng ma túy; làm ảnh hưởng tiêu cực đến người thân và cộng đồng dân cư; làm gia tăng tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật, đặc biệt là tội phạm về ma túy. Do đó, đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đào Văn T để cai nghiện ma túy và tạo điều kiện cho Đào Văn T tái hòa nhập xã hội là cần thiết nên được chấp nhận. Quá trình cơ quan chức năng lập hồ sơ đề nghị xử lý, Đào Văn T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về việc sử dụng trái phép chất ma túy của mình nên Đào Văn T được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Căn cứ Điều 95; khoản 2 Điều 9; khoản 2 Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ đối với Đào Văn T ; xét mức thời hạn 24 tháng quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính áp dụng đối với Đào Văn T là phù hợp, đảm bảo điều kiện cai nghiện, đồng thời đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật về ma túy trong tình hình hiện nay.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đào Văn T có căn cước lý lịch nêu trên.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Đào Văn T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:

Đào Văn T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Thủy Nguyên có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên có quyền kháng nghị đối với quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Thủy Nguyên phối hợp với Công an huyện Thủy Nguyên đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ