vanban.org

Quyết định 97/2024/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Vương phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Bùi Văn Vương 03 (ba) năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2023. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Hoàng phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Vương + ĐP - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Vương phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HS-ST
Ngày: 05/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hà Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi

Bà Phạm Thị Nguyệt Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký TAND thành phố Biên Hoà.

- Đại diện VKSND thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở TAND thành phố Biên Hoà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 756/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 792/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2023, Quyết định hoãn phiên toà số 84/2024/HSST-QĐ ngày 25/01/2024 đối với các bị cáo:

1/ Bùi Văn Vương, tên gọi khác: Mười, sinh năm 1983 tại Đồng Nai. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: không có nơi cư trú nhất định (Nơi thường trú: số 18 Võ Văn Ngân, phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh). Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 8/12. Nghề nghiệp: Không. Không xác định được cha mẹ, anh chị em và chưa có vợ con.

Bị bắt tạm giữ ngày 06/8/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 1305 ngày 15/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai.

2/ Nguyễn Thanh Hoàng, tên gọi khác: Ty bà lan, sinh năm 1989 tại Đồng Nai. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: 8/4, tổ 5F, khu phố 1, phường Bửu Long, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông: Nguyễn Thanh Hùng, sinh năm 1966, con bà Huỳnh Thu Lan, sinh năm 1968. Gia đình có 02 anh em, bị can là con lớn nhất, có vợ là Phạm Thị thanh Thúy (sinh năm 1995) và có 01 con sinh năm 2017.

Tiền án:

- Ngày 30/7/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 21/10/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 10 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị bắt tạm giữ ngày 06/8/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 1303 ngày 15/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai.

3/ Nguyễn Minh Quang, tên gọi khác: Úc mini, sinh năm 1996 tại Đồng Nai. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: 94/4B, tổ 12, khu phố 1, phường An Bình, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông: Nguyễn Phan Anh, sinh năm 1950, con bà Nguyễn Thị Kim Liên, sinh năm 1957. Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 04, có vợ là Đặng Nguyễn Ngọc Trâm và có 01 con sinh năm 2019.

Tiền án:

- Ngày 07/7/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù giam về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Ngày 24/8/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về các tội “Cố ý gây thương tích” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

- Ngày 27/02/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: không.

Bị bắt tạm giữ ngày 06/8/2022, chuyển tạm giam theo lệnh số 1304 ngày 15/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai.

4/ Vũ Văn Biển, tên gọi khác: Không, sinh năm 1988 tại Đồng Nai. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: 334/5/30, khu phố 1, phường Thống Nhất, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông Vũ Minh Chiến, sinh năm 1957, con bà Vũ Thị Dậu, sinh năm 1957. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất và chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt tạm giữ ngày 06/8/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 1036 ngày 15/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai.

- Bị hại:

1. Ông Trần Văn Nam, sinh năm 1965,

2. Bà Trần Thị Kim Linh, sinh năm 1972,

3. Chị Trần Thị Kim Ngân, sinh năm 1998.

Cùng cư trú: 83/2/8, khu phố 2, phường Tân Phong, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

4. Anh Võ Đặng Long, sinh năm 2002.

Nơi cư trú: 44 đường Lương Văn Nho, khu phố 2, phường Tân Phong, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

5. Chị Trần Ngọc Tường Vy, sinh năm 2002.

Nơi cư trú: 44 đường Lương Văn Nho, khu phố 2, phường Tân Phong, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

6. Anh Lương Thanh Nhàn, sinh năm 1996.

Nơi cư trú: 254/5, khu phố 2, phường Thống Nhất, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

(Các bị cáo có mặt, bị hại anh Nhàn, ông Nam có mặt, bà Linh, chị Ngân,

anh Long, chị Vy có đơn xin vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh Hoàng, Nguyễn Minh Quang, Bùi Văn Vương là những người không có nghề nghiệp. Để có tiền tiêu xài, từ ngày 29/3/2023 đến ngày 21/7/2023, Vương, Hoàng và Quang đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp xe mô tô, cụ thể như sau:

Vụ 01: Khoảng 19 giờ ngày 23/3/2023, Hoàng đi bộ đến khu vực khu phố 4, phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa để tìm bạn tên Vũ (không rõ họ, địa chỉ). Khi đi ngang qua nhà số 28/15, tổ 2A, khu phố 4, phường Quang Vinh thì Hoàng phát hiện có 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade, biển số 61L7-0344 của anh Lương Thanh Nhàn, ngụ tại 254/5, khu phố 2, phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa đang dựng trước nhà, trên xe vẫn còn cắm chìa khóa thấy không có người trông coi nên Hoàng đi đến ngồi lên xe mô tô trên, khởi động máy rồi điều khiển xe chạy về cất giấu tại nhà gửi xe của Siêu thị sách Nguyễn Văn Cừ thuộc phường Tân Hiệp, thành phố Biên Hòa. Sau đó, Hoàng đi lên khu vực trò chơi game bắn cá trong siêu thị hỏi những người đang chơi game để bán xe mô tô với giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) thì có 01 người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ đồng ý mua. Hoàng dẫn người đàn ông trên xuống nhà gửi xe và mở cốp xe ra thì thấy có 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank, 01 thẻ ATM ngân hàng Techcombank, 01 giấy phép lái xe mô tô và 01 thẻ căn cước công dân của anh Nhàn nên Hoàng đã giao xe mô tô và chứng nhận đăng ký xe cho người đàn ông trên, còn 01 thẻ ATM ngân hàng Vietcombank, 01 thẻ ATM ngân hàng Techcombank, 01 giấy phép lái xe mô tô và 01 thẻ căn cước công dân của anh Nhàn thì Hoàng đã nhờ Vũ mang trả lại cho anh Nhàn, còn số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) Hoàng tiêu xài hết.

Vật chứng của vụ án:

- 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade, biển số 61L7-0344 và giấy chứng nhận đăng ký xe do Nguyễn Thanh Hoàng đã bán cho 01 người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa không thu giữ được.

- 01 USB chứa hình ảnh camera ghi nhận sự việc Nguyễn Thanh Hoàng trộm cắp xe mô tô hiệu Honda Air Blade, biển số 61L7-0344 của anh Lương Thanh Nhàn (lưu trong hồ sơ vụ án).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 544/KL-HĐĐGTS ngày 23/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa kết luận: “01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade, biển số 61L7-0344 trị giá 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng)”.

Về dân sự: anh Lương Thanh Nhàn yêu cầu bồi thường 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Hiện Nguyễn Thanh Hoàng chưa bồi thường.

Vụ 02: Khoảng 02 giờ ngày 08/7/2023, Bùi Văn Vương đi bộ đến khu vực khu phố 2, phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa để trộm cắp tài sản. Khi đi ngang qua dãy phòng trọ tại nhà số 44, đường Lương Văn Nho, khu phố 2, phường Tân Phong thì Vương phát hiện cửa cổng không khóa nên Vương mở cửa cổng đi vào bên trong sân thì Vương thấy trước phòng trọ số 3 của chị Trần Ngọc Tường Vy, ngụ tại 223/96, tổ 1, khu phố 2, phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa thuê ở trọ đóng cửa có dựng 01 xe mô tô hiệu Piaggio, biển số 30F6-9957 (xe của chị Vy) và 01 xe mô tô kiểu Wave RSX, biển số 60B2-753.28 của anh Võ Đặng Long, ngụ tại ấp Hàng Gòn, xã Hàng Gòn, thị xã Long Khánh (là bạn trai của chị Vy) nên Vương đi đến lần lượt lấy trộm 02 xe mô tô trên và dắt ra cất giấu vào bụi cây ven đường. Sau đó, Vương giật dây điện ổ khóa để khởi động máy rồi điều khiển xe mô tô kiểu Wave RSX, biển số 60B2-753.28 đến bán cho Vũ Văn Biển tại số 327/3, khu phố Tam Hòa, phường Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa. Mặc dù biết rõ là xe mô tô trên do Vương trộm cắp mà có nhưng Biển vẫn đồng ý mua với giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Sau đó Vương thuê 01 người chạy xe ôm không rõ họ tên địa chỉ chở Vương quay lại lấy xe mô tô hiệu Piaggio, biển số 30F6-9957 đem đi bán. Do không khởi động được máy nên Vương dắt xe mô tô trên đi đến khu vực gần Quảng trường tỉnh Đồng Nai thuộc phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa và bán cho 01 người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ gặp trên đường với giá 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) Vương đã tiêu xài hết.

Vật chứng của vụ án:

- 01 xe mô tô kiểu Wave RSX, biển số 60B2-753.28 sau khi mua lại từ Bùi Văn Vương thì Vũ Văn Biển đã bán cho 01 người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ với giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa không thu hồi được.

- 01 xe mô tô hiệu Piaggio, biển số 30F6-9957 do Bùi Văn Vương đã bán cho 01 người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa không thu hồi được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 544/KL-HĐĐGTS ngày 23/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa kết luận: “01 xe mô tô kiểu Wave RSX, biển số 60B2-753.28 trị giá 18.525.000 đồng (Mười tám triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng); 01 xe mô tô hiệu Piaggio, biển số 30F6-9957 trị giá 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng)”.

Về dân sự:

- Anh Võ Đặng Long yêu cầu bồi thường 18.525.000 đồng (Mười tám triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

- Chị Trần Ngọc Tường Vy yêu cầu bồi thường 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

Hiện Bùi Văn Vương chưa bồi thường.

Vụ 03: khoảng 03 giờ 00 phút ngày 21/07/2023, Bùi Văn Vương đi bộ đến khu vực khu phố 2, phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa để trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà số 83/2/8, khu phố 2, phường Tân Phong của chị Trần Thị Kim Ngân thì Vương phát hiện cửa cổng không khóa, trong sân nhà có dựng 01 xe mô tô hiệu Vision, biển số 60F3-173.27 (xe của bà Trần Thị Kim Linh là mẹ của chị Ngân), 01 xe mô tô hiệu Storm, biển số 60T6-0570 (xe của ông Trần Văn Nam là cha của chị Ngân) và 01 xe máy điện hiệu Vinfast, biển số 60MĐ1-01147 (là xe của chị Ngân) nên Vương đã lén mở cửa cổng đi vào lấy trộm xe mô tô hiệu Storm, biển số 60T6- 0570 của ông Nam dắt ra ngoài. Sau đó, Vương dắt xe mô tô trên đến tiệm game bắn cá “Gấu Trúc” thuộc khu phố 2, phường Tân Phong và cầm cho Vũ Văn Biển với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Đến sáng ngày 21/7/2023, Vương bán luôn xe mô tô trên cho Biển và Biển đưa thêm cho Vương 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 409/KL-HĐĐGTS ngày 01/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa kết luận: “01 xe mô tô hiệu Storm, biển số 60T6- 0570 trị giá 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng)”.

Vụ 04: Sau khi đã bán xe mô tô hiệu Storm, biển số 60T6- 0570 cho Biển thì Vương gặp và rủ Nguyễn Thanh Hoàng đi đến nhà chị Ngân để tiếp tục trộm cắp xe mô tô, sau đó cả hai đi bộ đến nhà chị Ngân. Vương đứng ngoài cảnh giới còn Hoàng mở cổng đi vào trong sân lấy trộm chiếc xe máy điện hiệu Vinfast biển số MĐ1-01147 dắt ra ngoài. Do không mở được khóa xe trên nên Hoàng ngồi lên xe điều khiển còn Vương chạy bộ đẩy phía sau xe để đem về cất giấu tại tiệm game bắn cá “Gấu Trúc” của anh Trần Quang Thứ, ngụ tại 100/5B, khu phố 1, phường An Bình, thành phố Biên Hòa làm chủ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 409/KL-HĐĐGTS ngày 01/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa kết luận: “01 xe máy điện hiệu Vinfast biển số MĐ1-01147 trị giá 33.915.000 đồng (Ba mươi ba triệu chín trăm mười lăm nghìn đồng)”.

Vụ 05: Sau khi Vương và Hoàng lấy trộm chiếc xe máy điện hiệu Vinfast biển số MĐ1-01147 đem về cất giấu tại tiệm game bắn cá “Gấu Trúc” thì gặp Nguyễn Minh Quang. Lúc này, Vương tiếp tục rủ Hoàng quay lại nhà chị Ngân trộm cắp chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F3-173.27 nhưng do Hoàng đang mở dây điện để phá khóa chiếc xe máy điện hiệu Vinfast biển số MĐ1-01147 nên Hoàng kêu Quang đi cùng với Vương đến nhà chị Ngân lấy trộm xe mô tô thì Quang đồng ý. Quang điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius (không rõ biển số) chở Vương đi đến nhà chị Ngân rồi Quang đứng ngoài cảnh giới để Vương đi vào lấy trộm xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60F3-173.27 và dắt ra ngoài. Do xe không có chìa khóa để khởi động máy nên Vương ngồi lên điều khiển xe còn Quang điều khiển xe mô tô của Quang và dùng chân đẩy phía sau đi về tiệm game bắn cá “Gấu Trúc”. Tại đây, Hoàng mở dây điện để khởi động máy xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60F3-173.27 trên rồi giao cho Quang điều khiển, còn Vương điều khiển xe máy điện hiệu Vinfast biển số MDD1-01147 đã trộm cắp của chị Ngân cùng đem đến cất giấu tại nhà để xe của Nhà sách Nguyễn Văn Cừ thuộc phường Tân Hiệp, thành phố Biên Hòa. Đến 06 giờ ngày 21/7/2023, chị Trần Thị Kim Ngân phát hiện gia đình bị mất tài sản nên đã đến Công an phường Tân Phong trình báo. Qua kiểm tra, xác minh Công an phường Tân Phong đã phối hợp với Công an phường Tân Hiệp lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa điều tra, xử lý.

Qua truy xét, ngày 06/08/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã bắt, tạm giữ Nguyễn Thanh Hoàng, Nguyễn Minh Quang, Bùi Văn Vương, Vũ Văn Biển để điều tra, xử lý.

Vật chứng của vụ án:

- 01 xe mô tô hiệu Storm, biển số 60T6- 0570 sau khi mua lại từ Bùi Văn Vương thì Vũ Văn Biển đã bán cho 01 người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ với giá 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa không thu hồi được.

- 01 xe máy điện hiệu Vinfast, biển số MĐ1-01147 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã thu hồi và trả lại cho chị Trần Thị Kim Ngân.

- 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F3-173.27 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã thu hồi và trả lại cho bà Trần Thị Kim Linh.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 10 5G, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6300 là tài sản của bị can Vũ Văn Biển không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã trả lại cho Biển.

- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, biển số 64B1- 04572; 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60G1-240.92 là tài sản của bị can Vũ Văn Biển không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã trả lại cho Biển.

- 01 xe mô tô kiểu Wave, biển số 69F1-087.43 do đối tượng Tăng Văn Đen, ngụ tại ấp Đầu Giồng B, xã Phước Hưng, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh bán cho Vũ Văn Biển. Đen khai báo đã lấy trộm xe mô tô tại khu vực phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa. Hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đang tiếp tục tạm giữ để điều tra, làm rõ hành vi của Đen và Biển trong 01 vụ án khác.

- 01 xe mô tô kiểu Wave, biển số 52P8-0086 do Vũ Văn Biển nhận cầm của người khác, hiện chưa xác minh được chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục tạm giữ để xác minh, khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

- 01 xe mô tô biển số 59X2-403.27 của Bùi Văn Vương mua lại từ 01 người không rõ họ tên, địa chỉ. Hiện chưa xác minh được chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa tiếp tục tạm giữ để xác minh, khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A31 là tài sản của bị can Nguyễn Minh Quang không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã trả lại cho Quang.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo là tài sản của bị can Bùi Văn Vương không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã trả lại cho Vương.

- 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) là tiền Vũ Văn Biển thu lợi bất chính từ việc bán 01 xe mô tô kiểu Wave RSX, biển số 60B2-753.28 và 01 xe mô tô hiệu Storm, biển số 60T6- 0570 do anh Vũ Minh Thắng là anh trai của Biển giao nộp.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 409/KL-HĐĐGTS ngày 01/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa kết luận: “01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60F3-173.27 trị giá 22.125.000 đồng (Hai mươi hai triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng)”.

Về dân sự:

- Bà Trần Thị Kim Linh và chị Trần Thị Kim Ngân không yêu cầu bồi thường.

- Ông Trần Văn Nam yêu cầu bồi thường 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng). Hiện Bùi Văn Vương chưa bồi thường

Tại Cáo trạng số 754/CT-VKSBH ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Bùi Văn Vương về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Thanh Hoàng về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Minh Quang về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vũ Văn Biển về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 xử phạt bị cáo Bùi Văn Vương với mức án từ 03 năm – 03 năm 6 tháng tù giam, đề nghị áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Hoàng với mức án từ 03 năm 6 tháng – 04 năm tù giam, đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 58 xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Quang với mức án từ 02 năm 06 tháng – 03 năm tù giam, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Văn Biển với mức án từ 01 năm – 01 năm 06 tháng tù giam.

Đối với bị cáo Nguyễn Minh Quang, do quá trình khai báo tại phiên toà và trong quá trình điều tra bị cáo không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Ý kiến của các bị cáo: các bị cáo không phát biểu tranh luận và không bào chữa.

Trong phần phát biểu lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và hứa không tái phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của các bị cáo được bảo đảm. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

Bị hại bà Linh, chị Ngân, anh Long, chị Vy có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy việc xét xử vắng mặt bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự Tòa án xét xử vắng mặt bị hại.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Minh Quang trình bày quá trình lấy lời khai tại cơ quan điều tra bị cáo bị Điều tra viên ép cung, dùng nhục hình, đánh vào đầu, bị cáo đã có báo cho cơ quan y tế của cơ sở giam giữ. Tuy nhiên bị cáo không cung cấp được chứng cứ để chứng minh và không yêu cầu Hội đồng xét xử tạm ngưng phiên toà để thu thập chứng cứ nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục phiên toà.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ, đã có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 23/3/2023, Nguyễn Thanh Hoàng đã thực hiện hành vi trộm cắp của anh Lương Thanh Nhàn 01 xe mô tô hiệu Honda Air Blade, biển số 61L7-0344 trị giá 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).

Ngày 08/7/2023, Bùi Văn Vương đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô kiểu Wave RSX, biển số 60B2-753.28 trị giá 18.525.000 đồng (Mười tám triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng) của anh Võ Đặng Long và 01 xe mô tô hiệu Piaggio, biển số 30F6-9957 trị giá 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) của chị Trần Ngọc Tường Vy rồi đem bán lại cho Vũ Văn Biển.

Ngày 21/07/2023, Vương đã thực hiện hành vi trộm cắp của ông Trần Văn Nam 01 xe mô tô hiệu Storm, biển số 60T6- 0570 trị giá 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) sau đó bán lại cho Vũ Văn Biển.

Ngày 21/07/2023, Vương và Hoàng đã thực hiện hành vi trộm cắp của chị Trần Thị Kim Ngân 01 xe máy điện hiệu Vinfast biển số MĐ1-01147 trị giá 33.915.000 đồng (Ba mươi ba triệu chín trăm mười lăm nghìn đồng). Sau đó, Vương, Hoàng và Nguyễn Minh Quang tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp của bà Trần Thị Kim Linh 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60F3-173.27 trị giá 22.125.000 đồng (Hai mươi hai triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của những người khác được Pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Trong vụ án này các bị cáo vừa thực hiện hành vi phạm tội riêng lẻ vừa phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, bộc phát. Trong đó:

Bị cáo Bùi Văn Vương là người trực tiếp thực hiện riêng lẻ 3 vụ trộm cắp xe, ngoài ra bị cáo còn cùng bị cáo Hoàng và bị cáo Quang thực hiện liên tiếp 02 vụ trộm cắp xe mô tô với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 88.765.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Thanh Hoàng là người trực tiếp thực hiện riêng lẻ 1 vụ trộm cắp xe, ngoài ra bị cáo còn giúp sức cho bị cáo Vương và bị cáo Quang thực hiện thêm 02 vụ trộm cắp xe với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được là 71.040.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Minh Quang là người giúp sức cho bị cáo Bùi Văn Vương thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản với giá trị tài sản chiếm đoạt được là 22.125.000 đồng.

Bị cáo Vũ Văn Biển là người đã 02 lần tiêu thụ tài sản do bị cáo Bùi Văn Vương trộm cắp với tổng giá trị tài sản là 20.725.000đ.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: các bị cáo Bùi Văn Vương, Nguyễn Thanh Hoàng, Vũ Văn Biển phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ:

Các bị cáo Bùi Văn Vương, Nguyễn Thanh Hoàng, Vũ Văn Biển thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Vũ Văn Biển có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và đã nộp lại tiền thu lợi bất chính theo quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Minh Quang quá trình xét hỏi tại phiên toà bị cáo quanh co, không thành khẩn khai báo về hành vi cùng bị cáo Vương trộm cắp chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60F3-173.27 của bà Trần Thị Kim Linh. Bị cáo cho rằng bị cáo chỉ đi cùng với bị cáo Bùi Văn Vương để lấy xe, bị cáo không biết là đi trộm cắp xe. Mặc dù quá trình đối chất, thẩm vấn tại phiên toà bị cáo cũng đã khai nhận hành vi giúp sức của bị cáo cho bị cáo Vương thực hiện việc trộm cắp chiếc xe trên nhưng Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 cho bị cáo Nguyễn Minh Quang.

Đối với anh Trần Quang Thứ là chủ tiệm game bắn cá “Gấu Trúc” không biết việc các bị cáo Bùi Văn Vương, Nguyễn Thanh Hoàng, Nguyễn Minh Quang (là khách chơi game) đem các xe mô tô trộm cắp đến để tại tiệm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa không xử lý là đúng quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị cáo Bùi Văn Vương đồng ý bồi thường cho anh Võ Đặng Long 18.525.000 đồng, chị Trần Ngọc Tường Vy 12.000.000 đồng, ông Trần Văn Nam 2.200.000 đồng, nên Hội đồng xét xử ghi nhận buộc bị cáo Bùi Văn Vương phải bồi thường cho anh Võ Đặng Long 18.525.000 đồng, chị Trần Ngọc Tường Vy 12.000.000 đồng, ông Trần Văn Nam 2.200.000 đồng.

Ngoài ra bị cáo Nguyễn Thanh Hoàng cũng đồng ý bồi thường cho anh Lương Thanh Nhàn 15.000.000 đồng do vậy buộc bị cáo Hoàng phải bồi thường cho anh Lương Thanh Nhàn 15.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) là tiền thu lợi bất chính của bị cáo Vũ Văn Biển.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tại phiên tòa phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án,

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Bùi Văn Vương phải chịu thêm 1.826.000 đồng (Một triệu tám trăm hai sáu ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh Hoàng phải chịu thêm 750.000 đồng ( Bảy trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Vương phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: bị cáo Bùi Văn Vương 03 (ba) năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2023.

2. Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Hoàng phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh Hoàng 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2023.

3. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Quang phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh Quang 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2023.

4. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Biển phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: bị cáo Vũ Văn Biển 01 (một) năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2023.

5. Về dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự:

Buộc bị cáo Bùi Văn Vương phải bồi thường cho anh Võ Đặng Long 18.525.000 đồng (Mười tám triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng), chị Trần Ngọc Tường Vy 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng), ông Trần Văn Nam 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng).

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Hoàng phải bồi thường cho anh Lương Thanh Nhàn 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).

6. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Ngoài ra bị cáo Bùi Văn Vương phải chịu thêm 1.826.000 đồng (Một triệu tám trăm hai sáu ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh Hoàng phải chịu thêm 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

7. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự: Sung công quỹ nhà nước 700.000 đồng (Bảy trăm ngàn đồng) là số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Vũ Văn Biển (Theo biên lai thu tiền ngày 25/01/2024 số 0002655 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà).

8. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo theo luật định. Riêng những người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết công khai bản án theo quy định.

Cỡ chữ