vanban.org

Quyết định 96/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị Q. Chị Trần Thị Q được ly hôn với anh Phan Văn H. Do chị Q và anh H không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.

Về con chung: Chị Trần Thị Q được trực tiếp nuôi con chung Phan Trần Anh Tú, sinh ngày 14/9/2020. Do chị Q không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh H có quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Q yêu cầu ly hôn với anh Phan Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị Q. Chị Trần Thị Q được ly hôn với anh Phan Văn H. Do chị Q và anh H không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 06-8-2024
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Tài.

2. Ông Lê Khắc Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Sương-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quí – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Q, sinh năm 1992. Địa chỉ: ấp TA, xã TH, huyện P, tỉnh Bến Tre.

Chị Q có yêu cầu xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Phan Văn H, sinh năm 1991. Địa chỉ: ấp TA, xã TH, huyện P, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Trần Thị Q trình bày:

Năm 2020 chị với anh H được cha mẹ hai tổ chức đám cưới, chị và anh H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16/3/2020. Việc kết hôn và đăng ký kết hôn là do chị và anh H tự nguyện. Thời gian đầu chị và anh H chung sống hạnh phúc, chị và anh H có 01 con chung tên Phan Trần Anh Tú, sinh ngày 14/9/2020. Hiện con chung đang sống chung với chị.

Khoảng 03 tháng nay chị và anh H phát sinh mâu thuẫn do anh H thường xuyên cờ bạc, không quan tâm vợ con, chị nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh H không nghe, làm cho cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Cha mẹ hai bên đều biết có hàn gắn nhiều lần cho chị và anh H nhiều lần nhưng chị và anh H không có thiện chí hàn gắn với nhau.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị có các yêu cầu như sau:

- Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Phan Văn H. Sau khi ly hôn chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng cho chị.

- Về con chung: Từ khi chị và anh H không còn sống chung đến nay, con chung do chị trực tiếp nuôi. Anh H có tới lui thăm con và có cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện chị có thu nhập ổn định khoảng hơn 10.000.000 đồng/tháng nên chị yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Phan Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần các thông báo nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về trình tự thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Nguyên đơn thực hiện đúng qui định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70,72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 53, 56; Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thẩm quyền: Bị đơn anh Phan Văn H hiện sinh sống tại ấp Thạnh An, xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng:

- Chị Trần Thị Q có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Q.

-Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt cho anh H các văn bản tố tụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh H đều không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

Về hôn nhân: Năm 2020 chị Q và anh H tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16/3/2020. Do đó, việc kết hôn và đăng ký kết hôn của chị Q và anh H là phù hợp với quy định của pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nguyên nhân chị Q yêu cầu ly hôn với anh H là do anh H thường xuyên cờ bạc, không quan tâm vợ con, chị nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh H không nghe, làm cho cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Cha mẹ hai bên đều biết có hàn gắn nhiều lần cho chị và anh H nhưng chị và anh H không có thiện chí hàn gắn với nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các thông báo, quyết định của Tòa án nhằm tạo điều kiện để chị Q và anh H hòa giải với nhau nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị Q và anh H đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị Q đối với anh H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do chị Q và anh H không yêu cầu cấp dưỡng vợ chồng sau khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.

Về con chung: Chị Q và anh H có 01 con chung là cháu Phan Trần Anh Tú, sinh ngày 14/9/2020. Thấy rằng, từ khi chị Q và anh H không còn sống chung, chị Q là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Lẽ đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của chị Q, giao cháu Phan Trần Anh T, sinh ngày 14/9/20XX cho chị Q trực tiếp nuôi là phù hợp. Do chị Q không yêu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con, chị Q có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Do chị Q trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Do chị Q trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Trần Thị Q phải nộp theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 53, 56, 81, 82 và Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị Q. Chị Trần Thị Q được ly hôn với anh Phan Văn H. Do chị Q và anh H không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.

2. Về con chung: Chị Trần Thị Q được trực tiếp nuôi con chung Phan Trần Anh Tú, sinh ngày 14/9/2020. Do chị Q không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con, chị Q có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Do chị Q trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Do chị Q trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Q phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003693 ngày 05 tháng 03 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú và đã nộp xong.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ