vanban.org

Quyết định 95/2022/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 21/11/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Chu Ngọc T và chị Phạm Thị H.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của anh Chu Ngọc T và chị Phạm Thị H, giao con chung Chu Ngọc Thủy, sinh ngày 22/9/2012 cho chị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chu Ngọc T - Phạm Thị H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Chu Ngọc T và chị Phạm Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_____________
Số: 95/2022/QĐST-HNGĐ
Hải Dương, ngày 21 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con.

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Xuân Trường.

Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Huyền - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 316/2022/TB-TA ngày 24 tháng 10 năm 2022, về việc: “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con”, theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 310/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1. Anh Chu Ngọc T, sinh năm 1986.

ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn 7, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

2. Chị Phạm Thị H, sinh năm 1986.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T3, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương.

Người được anh T, chị H ủy quyền về việc giao, nhận văn bản tố tụng của Tòa án: Chị Đoàn Thị Kiều T1, sinh năm 1990. ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Số 19/167 M1, phường B, thành phố D, tỉnh Hải Dương.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị T2, sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn T3, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương.

(Anh T, chị H và bà T2 có đơn và có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; Bản tự khai; Giấy ủy quyền; Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của anh Chu Ngọc T và chị Phạm Thị H cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Chu Ngọc T và chị Phạm Thị H được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương vào ngày 27/02/2012. Vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng và không thể hàn gắn được, năm 2014 chị H đưa con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, năm 2016 chị xuất cảnh lao động tại Đài Loan. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân anh chị có liên lạc để tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng mâu thuẫn càng căng thẳng và trầm trọng hơn. Nay anh T, chị H cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn và thống nhất đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Chu Ngọc Thủy, sinh ngày 22/9/2012, hiện con đang ở với bà Lê Thị T2. Anh T, chị H thống nhất giao con chung cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi). Chị H tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Trong thời gian chị H không có mặt tại Việt Nam chị ủy quyền cho bà Lê Thị T2 thay chị chăm sóc con chung cho đến khi chị về nước, anh T nhất trí giao con cho bà T2 nuôi dưỡng trong thời gian chị H không có mặt tại Việt Nam.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T, chị H cùng thống nhất không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh T tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Anh Chu Ngọc T đang làm ăn, sinh sống tại Phú Thọ, chị Phạm Thị H hiện đang sinh sống tại Đài Loan nên anh, chị ủy quyền cho chị Đoàn Thị Kiều T1 thay anh, chị giao, nhận các tài liệu tại Tòa án. Chị Trang nhất trí nhận ủy quyền của anh T, chị H. Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, chị Trang đã thông báo cho anh T, chị H biết; anh T, chị H vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Do điều kiện nên anh Chu Ngọc T và chị Phạm Thị H không trực tiếp tham gia tố tụng tại Tòa án được anh, chị đều có đơn và có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Bà Lê Thị T2 có quan điểm: Đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Chu Ngọc Thủy cho đến khi chị H về nước, bà không yêu cầu anh, chị phải cấp dưỡng tiền nuôi cháu Thủy và bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Con chung của anh T, chị H là cháu Chu Ngọc Thủy có nguyện vọng được ở với chị H và bà T2.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ việc: Căn cứ Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Chu Ngọc T và chị Phạm Thị H. Giao con chung Chu Ngọc Thủy, sinh ngày 22/9/2012 cho chị H nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm giao cháu Thủy cho bà T2 tiếp tục nuôi dưỡng trong thời gian chị H không có mặt tại Việt Nam. Anh T tự nguyện chịu cả lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, quan điểm của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

. Về tố tụng: Anh Chu Ngọc T và chị Phạm Thị H có đơn đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Anh T hiện đang cư trú tại xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; chị H hiện đang lao động tại Đài Loan, nơi cư trú trước khi xuất cảnh tại Thôn T3, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương. Do vậy, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Quá trình giải quyết anh T, chị H đều có đơn và có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Chị H không về Việt Nam tham gia tố tụng nhưng đã gửi đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và giấy ủy quyền đến Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Các tài liệu này đã được Văn phòng Kinh tế Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc chứng thực. Do vậy, có đủ cơ sở khẳng định nội dung trong các văn bản mà chị H gửi về đúng là ý chí, nguyện vọng của chị.

Do các bên đương sự đều đề nghị xin được vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Chu Ngọc T và chị Phạm Thị H được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương vào ngày 27/02/2012 là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau và không tìm được tiếng nói chung. Năm 2014 chị H đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Năm 2016, chị H đi lao động tại Đài Loan, vợ chồng có liên lạc để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng mâu thuẫn càng trầm trọng hơn. Nay anh T và chị H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên thống nhất đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T và chị H.

Về con chung: Anh T, chị H thống nhất giao con chung là Chu Ngọc Thủy, sinh ngày 22/9/2012 cho chị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi). Chị H tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Bà T2 nhất trí nuôi dưỡng cháu Thủy trong thời gian chị H không có mặt tại Việt Nam. Xét thấy, thỏa thuận của các đương sự phù hợp với thực tế, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình và không trái đạo đức xã hội, nên cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T, chị H cùng thống nhất không yêu cầu giải quyết.

. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của anh T tự nguyện chịu cả lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 55, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149, Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Chu Ngọc T và chị Phạm Thị H.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của anh Chu Ngọc T và chị Phạm Thị H, giao con chung Chu Ngọc Thủy, sinh ngày 22/9/2012 cho chị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên (tròn 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Trong thời gian chị H không ở Việt Nam, tạm giao cháu Thủy cho bà Lê Thị T2 chăm sóc, nuôi dưỡng

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

3. Về lệ phí: Anh Chu Ngọc T tự nguyện chịu cả 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ theo biên lai thu số AA/2021/0001738 ngày 21/10/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (do chị Đoàn Thị Kiều T1 nộp thay). Chị H đã nộp đủ lệ phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ