- Tranh chấp gì? "Ông Nguyễn Đức N - Khiếu kiện quyết định hành chính về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 07/2017/QĐ-ST ngày 17/3/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi để tiếp tục giải quyết vụ án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 95/2017/QĐ-PT | Đà Nẵng, ngày 06 tháng 7 năm 2017. |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Trương Minh Tuấn.
Các Thẩm phán: - Ông Nguyễn Văn Bường;
- Ông Vũ Thanh Liêm.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Thành An, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên họp: Ông Lê Phước Thạnh, Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 07/2017/QĐ-ST ngày 17 tháng 3 năm 2017 củaTòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38, Điều 143 và Điều 144 của Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về khiếu kiện Quyết định số 2114/QĐ-UBND ngày 30/12/1013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, giữa:
1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Đức N.
Nơi cư trú: xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Ông N có mặt tại phiên họp.
2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
Địa chỉ: đường H, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1960; nơi cư trú: xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
Tại đơn kháng cáo ngày 23 tháng 3 năm 2017 của ông Nguyễn Đức N có nội dung: Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 07/2017/QĐ-ST ngày 17 tháng 3 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi là hoàn toàn không đúng, yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xử hủy quyết định đình chỉ nói trên.
Tại phiên họp, ông Nguyễn Đức N xuất trình những chứng cứ mới và trình bày: Vào ngày 05/8/2015, ông N tiếp tục có đơn khởi kiện gởi đến Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và nhiều cơ quan khác nhưng không được Tòa án mời đến làm việc, không nhận được yêu cầu hoặc thông báo từ Tòa án và Ông có xuất trình các Biên lai gởi bằng bưu điện cho Tòa án và Viện kiểm sát tỉnh Quảng Ngãi; đồng thời gởi cho Tòa án văn bản đơn thư ghi ngày 03/8/2015 Tòa án tỉnh nhận ngày 04/8/2015. Ông đề nghị Hội đồng xét xử hủy quyết định đình chỉ, tiếp tục giải quyết vụ án cho Ông.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu quan điểm như sau: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nhận định: Ông N đã nhận Công văn số 01/2014/CV-THC trả lại đơn khởi kiện vào ngày 08/3/2014 đến ngày 07/11/2016 ông Nguyễn Đức N mới có đơn khởi kiện Quyết định số 2114/QĐ-UBND ngày 30/12/1013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đến TAND tỉnh Quảng Ngãi là đã quá thời hạn quy định theo khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là không đúng; Bởi lẽ, ngày 03/8/2015 ông N có đơn gởi đến Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi với nội dung khiếu nại Quyết định số 2114/QĐ-UBND ngày 30/12/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi là còn trong thời hiệu khởi kiện theo Nghị quyết; đề nghị Hội đồng xét xử hủy quyết định đình chỉ, giao hồ sơ cho TAND tỉnh Quảng Ngãi giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
XÉT THẤY:
Ngày 20/1/2014, ông Nguyễn Đức N đã có đơn khởi kiện đối với Quyết định số 2114/QĐ-UBND ngày 30/12/1013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, ngày 03/4/2014 Tòa án nhân dân tỉnh Quãng Ngãi đã ban hành Công văn số 01/2014/CV-THC trả lại đơn khởi kiện vì quyết định giải quyết khiếu nại không phải đối tượng khởi kiện, ông N đã nhận công văn này ngày 08/3/2014; ngày 07/11/2016, ông Nguyễn Đức N tiếp tục có đơn khởi kiện Quyết định số 2114/QĐ-UBND ngày 30/12/1013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Tòa án nhân dân tỉnh Quãng Ngãi đã căn cứ vào khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Luật tố tụng hành chính để ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 07/2017/QĐ-ST ngày 17/3/2017 vì cho rằng, thời hiệu khởi kiện và thời hạn khởi kiện theo Nghị quyết đã hết. Tuy nhiên, tại phiên họp ông N có xuất trình các biên lai bưu điện gởi Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Quãng Ngãi, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quãng Ngãi về đơn thư phản đối Quyết định số 2114/QĐ-UBND ngày 30/12/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Quãng Ngãi; đồng thời có xuất trình đơn thư gởi Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Quãng Ngãi vào ngày 03/8/2015 được Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi nhận và đóng dấu công văn đến số 787 ngày 4/8/2015 có nội dung: Phản đối Quyết định số 2114/QĐ ngày 30/12/2013 và đề nghị UBND tỉnh, thành phố thu hồi quyết định sai trái.
Theo quy định tại Điều 105 Luật tố tụng hành chính năm 2011 và Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; thì sau khi nhận đơn khởi kiện, nếu thấy đơn khởi kiện không có các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 105 thì Tòa án yêu cầu bằng văn bản để người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện cho đúng tố tụng hành chính. Nhưng ông N không được Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phản hồi và yêu cầu bằng văn bản để hướng dẫn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện cho đúng; do vậy, xác định ngày ông N có đơn khởi kiện lại là ngày 04/8/2015 là trong thời hạn được quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật tố tụng hành chính. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân tỉnh Quãng Ngãi ông N không xuất trình chứng cứ này; Tòa án cũng chưa xác minh điều tra đầy đủ, nên đã ban hành hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 07/2017/QĐ-ST ngày 17/3/2017 là không đúng pháp luật. Ngoài ra, Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 31/2017/TB-TA ngày 28/3/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi cũng không đúng mức nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Hội đồng xét kháng cáo phúc thẩm chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và đơn kháng cáo của ông Nguyễn Đức N, hủy toàn bộ quyết định đình chỉ sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Ông N không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Hoàn trả cho ông N tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính năm 2015,
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 07/2017/QĐ-ST ngày 17/3/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi để tiếp tục giải quyết vụ án.
Ông Nguyễn Đức N không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Đức N số tiền 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí ông N đã nộp số AA/2014/000890 ngày 28/3/2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ngày 06/7/2017./.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu hồ sơ, VT, Phòng HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Trương Minh Tuấn |