vanban.org

Quyết định 94/QĐ-TA

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 25/12/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu Đ (có lý lịch như trên).

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QUYẾT ĐỊNH Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Lê Hữu Đ"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu Đ (có lý lịch như trên).
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THỐT NỐT - TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 94/QĐ-TAThốt Nốt, ngày 25 tháng 12 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với thành phần tiến hành phiên họp:

1/ Thẩm"phán: Ông Nguyễn Thanh Điền

2/ Thư"ký"phiên"họp: Bà Nguyễn Thị Nhàn

Ngày 25 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 94/QĐ-TA ngày 17 tháng 12 năm 2018, đối với:

Họ và tên: Lê Hữu Đ

Giới tính: nam

Sinh năm: 1996

Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: lớp 8/12.

Nguyên quán: khu vực L, phường N, quận T, thành phố Cần Thơ.

HKTT: khu vực L, phường N, quận T, thành phố Cần Thơ.

Chỗ ở hiện tại: khu vực L, phường N, quận T, thành phố Cần Thơ.

Nghề nghiệp: Phụ hồ.

Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông Lê Hữu T (1976) và bà Huỳnh Kim L.

(vắng mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

1. Đại"diện"cơ"quan"đề"nghị"(Phòng"Lao"động"thương"binh"và"xã"hội"quận" Thốt"Nốt): Ông Nguyễn Ngọc Sang - chuyên viên.

"

(có mặt)"

2."Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"quận"Thốt"Nốt: Ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.

(có"mặt)

NHẬN THẤY:"

Lê Hữu Đ là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 11.4.2018, Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N ban hành Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường. Ngày 17.8.2018, Đ chấp hành xong. Sau đó, Đ tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (amphetamine) và được xét nghiệm vào ngày 20.11.2018 với kết quả “dương tính”, tức là có sử dụng ma túy.

Trên cơ sở chứng cứ đã thu thập, thấy có đủ cơ sở nên cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị đưa Lê Hữu Đ đi cai nghiện bắt buộc. Từ đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T ban hành Văn bản số 193b/LĐTBXH ngày 29.11.2018 đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ.

Tại"phiên"họp,

Đề"nghị"của"đại"diện"Phòng"Lao"động"-"Thương"binh"và"Xã"hội"quận"T:"

Trên cơ sở kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đã được Phòng Tư pháp quận T thẩm định về mặt pháp lý, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ (Địa chỉ: ấp X, xã Y, thị xã I, tỉnh Hậu Giang) đối với Lê Hữu Đ (lý lịch nêu trên) với thời gian là 15 tháng.

Ý"kiến"của"đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"quận"T:

- Đối với Tòa án: Đã tuân thủ đúng trình tự quy định theo Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

- Đối với việc lập hồ sơ đề nghị: đã đảm bảo tính pháp lý về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Vì vậy, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T đề nghị đưa Lê Hữu Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng là phù hợp.

Người"bị"đề"nghị"Lê"Hữu"Đ"vắng"mặt"tại"phiên"họp.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được xem xét tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, nhận định:

Tại các Biên bản ghi lời khai và Bản tường trình, Lê Hữu Đ đều thừa nhận: bản thân sử dụng ma túy từ năm 2017 và lần gần nhất là ngày 20.11.2018.

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Lê Hữu Đ là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 11.4.2018, Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N ban hành Quyết định số 148/QĐ-UBND ngày 18.5.2018 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, với thời gian 03 tháng (kể từ ngày 18.5.2018). Ngày 17.8.2018, Đ chấp hành xong theo Giấy chứng nhận số 15/GCN-UBND ngày 17.8.2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N. Sau đó, Đ tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (heroin) và được xét nghiệm vào ngày 20.11.2018 với kết quả “dương tính”.

Như vậy, Đ là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện nên thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 17.8.2018 Lê Hữu Đ chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường do nghiện ma túy. Đến ngày 20.11.2018, Đ được tiến hành xét nghiệm chất ma túy với kết quả “dương tính” (tức là có sử dụng ma túy) nên còn trong thời hiệu để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại Điều 9 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Xét hồ sơ đề nghị, nhận thấy gồm: Bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị, Biên bản xét nghiệm chất ma túy vào ngày 20.11.2018 đã được Trạm y tế phường N xác định kết quả xét nghiệm “dương tính” với ma túy, Biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng ma túy trái phép, Bản tường trình của Lê Hữu Đ, Giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường do nghiện ma túy.

Như vậy, việc lập hồ sơ và trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu Đ đảm bảo tính pháp lý theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại Chương 2 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định số 136 (nêu trên).

Xét thấy: Lê Hữu Đ là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức về tác hại của ma túy. Trong khi, Nhà nước đang ra sức đấu tranh phòng/chống tội phạm về ma túy và tăng cường giáo dục tại địa phương đối với người nghiện ma túy nhằm đảm bảo trật tự xã hội và sức khỏe cộng đồng. Và Đ thuộc đối tượng được hưởng chính sách đó, nhưng khi chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường do nghiện ma túy ngày 17.8.2018 thì Đ lại sử dụng trái phép chất ma túy và được tiến hành xét nhiệm vào ngày 20.11.2018 với kết quả “dương tính”. Như vậy, có thể thấy rằng: việc giáo dục tại địa phương không phát huy hiệu quả, ý thức tự cai nghiện tại cộng đồng đối với Đ không khả thi. Do đó, cần áp dụng một thời hạn nhất định tại cơ sở cai nghiện để Lê Hữu Đ được chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, tạo điều kiện tốt cho Đ khi hòa nhập cộng đồng.

Do đó, đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T và ý kiến của Kiểm sát viên là có căn cứ.

Vì"các"lẽ"trên,

- Căn cứ vào các Điều 95, 96 và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính;

- Căn cứ vào các Điều 3, 20 và 31 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hữu Đ (có lý lịch như trên).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân quận T có quyền kháng nghị; Lê Hữu Đ (có lý lịch nêu trên) có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận T phối hợp với Công an quận T đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi!nhận:

Thẩm phán

- Người bị áp dụng;

(đã ký)

- Trưởng Công an quận T;

- Trưởng phòng LĐTBXH quận T;

- Ủy ban nhân dân phường (nơi cư trú);

- VKSND quận Thốt Nốt;

- Cơ sở cai nghiện ma túy TPCT;

- Tòa án nhân dân Tp. Cần Thơ;

- Lưu hồ sơ.

Nguyễn Thanh Điền

Cỡ chữ