- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Quốc T.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 94/2018/QĐ-TA | H, ngày 26 tháng 10 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH T
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà LÊ THỊ DUYÊN
2. Thư ký phiên họp: Bà LÊ THỊ HOÀNG YẾN
Ngày 26 tháng 10 năm 2018, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo hồ sơ thụ lý số: 94/2018/TL-VHC ngày 12 tháng 10 năm 2018 và Quyết định mở phiên họp số: 91/2018/QĐ-TA ngày 17 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện H đối với:
Họ và tên: NGUYỄN QUỐC T, sinh ngày 09/9/1994; giới tính: Nam; CMND số: 291111122 do Công an tỉnh T cấp ngày 19/02/2013; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: không biết chữ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Bến Kéo, xã N, huyện H, tỉnh T, hiện nay sống lang thang không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: làm thuê; con ông Nguyễn Văn Minh, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Hoa, sinh năm 1969.
Tiền án, tiền sự: không có.
Hiện đang lưu trú và chữa bệnh tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T, anh Nguyễn Quốc T có mặt tại phiên họp.
* Có sự tham gia của:
1. Đại diện hợp pháp của cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H, tỉnh T (Văn bản ủy quyền số: 89/GUQ-P.LĐTBXH ngày 18/10/2018):
Ông Lâm Hữu Bình - Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh T:
Ông Võ Hoàng Nhân - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 16/9/2018 anh Nguyễn Quốc T bị Công an xã N, huyện H, tỉnh T mời đến trụ sở làm việc, thử nước tiểu cho kết quả dương tính với ma túy đá nên lập biên bản vi phạm hành chính. Anh T thừa nhận có sử dụng ma túy đá vào ngày 13/9/2018 tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, từ năm 2015 đến nay ít về địa phương. Cùng ngày 16/9/2018 Công an xã N có văn bản gửi Trạm Y tế xã T, huyện H yêu cầu xác định người nghiện chất ma túy đối với anh T. Tại phiếu trả lời kết quả của Trạm Y tế xã T ngày 16/9/2018 kết luận anh Nguyễn Quốc T là người nghiện ma túy (Methamphetamine).
Tại phiếu xác minh tình trạng cư trú ngày 17/9/2018 của Ban quản lý ấp bến kéo, xã N, huyện H, tỉnh T và biên bản lấy lời khai của bà Nguyễn Thị Hoa ngày 17/9/2018 xác định: anh Nguyễn Quốc T bỏ địa phương từ năm 2015, không có nơi cư trú nhất định. Do anh T không có nơi cư trú ổn định nên Chủ tịch UBND xã N, huyện H, tỉnh T đã ban hành Quyết định số: 217/QĐ-UBND ngày 16/9/2018 đưa anh Nguyễn Quốc T vào cơ sở cai nghiện (Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T) để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H: Căn cứ vào hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Quốc T do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N lập đã thể hiện: anh Nguyễn Quốc T là người nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh T xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Quốc T, thời gian từ 12 tháng đến 14 tháng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H: Tòa án nhân dân huyện H đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Quốc T, thời gian từ 12 tháng đến 14 tháng.
Tại phiên họp, anh Nguyễn Quốc T không thừa nhận bản thân bị nghiện ma túy nhưng đồng ý đi cai nghiện.
XÉT THẤY:
Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của cơ quan đề nghị là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, có đủ cơ sở xác định:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Quốc T, xét thấy hồ sơ đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103, 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, 4, 8, 9, 11, 12, 13 Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; điểm 2 khoản 1 và điểm 1 khoản 2 Điều 1 Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.
Nội dung hồ sơ thể hiện anh Nguyễn Quốc T là người nghiện ma túy nên biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội. Để tạo điều kiện cho anh T chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề, nên xét thấy cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện H, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Quốc T.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, anh Nguyễn Quốc T thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy và đồng ý đi cai nghiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết tăng nặng: không có.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 6, 9, 10, 95, 96, 103, 104, 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, 4, 8, 9, 11, 12, 13 Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; điểm 2 khoản 1 và điểm 1 khoản 2 Điều 1 Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Quốc T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T, địa chỉ: xã Tân Hưng, huyện Tân Châu, tỉnh T.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện H có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện H; Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện H, tỉnh T.
| Nơi nhận: - VKSND huyện H; - Trưởng Công an huyện H; - Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện H; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh T; - UBND xã N; - Công an xã N; - Anh Nguyễn Quốc T; - Lưu hồ sơ-(D). | THẨM PHÁN |