- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: ChịPhạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƢƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2023/HNGĐ-ST Ngày 29-8-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƢƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Ngọc Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Dung
Bà Bùi Thị Nhàn
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng, Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lại Văn Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ChịPhạm Thị H; Nơi cư trú: Thôn M 1, thị trấn N, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ; Nơi cư trú: Thôn K, xã L, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện ngày 25 tháng 5 năm 2023 và quá trình tố tụng, nguyên đơn chịPhạm Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn Đ trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Lê Thiện, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng vào ngày 24 tháng 3 năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình anh Đ tại thôn K, xã L, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống vui vẻ hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên xẩy ra va chạm, cãi nhau và mâu thuẫn đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên chị và anh Đ đã sống ly thân từ năm 2019, không ai còn quan tâm và có trách nhiệm với ai nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Thanh T, sinh ngày 18 tháng 8 năm 2017. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị và anh Đ không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do và không có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chịPhạm Thị H.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã vi phạm Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự khi không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chịPhạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thanh T, sinh ngày 18 tháng 8 năm 2017 cho chịPhạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: ChịPhạm Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: ChịPhạm Thị H khởi kiện ly hôn đối với anh Nguyễn Văn Đ, yêu cầu khởi kiện của chị Hà thuộc trường hợp ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Văn Đ hiện đang cư trú tại xã L, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn chịPhạm Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chịPhạm Thị H và bị đơn anh Nguyễn Văn Đ.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn, tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập, đủ cơ sở xác định: ChịPhạm Thị H và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng vào ngày 24 tháng 3 năm 2015, theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm không ai còn quan tâm đến ai. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị H và anh Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị Hà có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: ChịPhạm Thị H và anh Nguyễn Văn Đ có một con chung là Nguyễn Thanh T, sinh ngày 18 tháng 8 năm 2017. Xét, con chung Nguyễn Thanh T hiện chưa đủ 18 tuổi nên việc nuôi dưỡng con chung sau ly hôn là trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ. Quá trình giải quyết vụ án anh Đ không có quan điểm về việc nuôi con, hiện nay con chung do chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi của con chung nên chấp nhận yêu cầu của chị Hà về nuôi con chung là phù hợp với quy định tại khoản 1, 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về việc cấp dưỡng nuôi con và tài sản: ChịPhạm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết còn anh Nguyễn Văn Đ không có quan điểm về các vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: ChịPhạm Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: ChịPhạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thanh T, sinh ngày 18 tháng 8 năm 2017 cho chịPhạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về việc cấp dưỡng và tài sản: Không giải quyết.
4. Về án phí: ChịPhạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chịPhạm Thị H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005121 ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện An Dương; - Chi cục THADS huyện An Dương; - UBND xã L; - Tòa án nhân dân T.P Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Ngọc Phƣơng |