vanban.org

Quyết định 93/2018/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Bùi Thị Kiều O và ông Nguyễn Hữu D.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về con chung: Bà Bùi Thị Kiều O trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con chung là Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày: 29/9/2006; Nguyễn Hữu T, sinh ngày: 28/10/2009. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LÊ THỊ KIỀU O- BÙI HUU D"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Bùi Thị Kiều O và ông Nguyễn Hữu D.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ C
TỈNH KHÁNH HÒA
Số: 93/2018/QĐST- HNGĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

C, ngày 08 tháng 8 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào hồ sơ vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 121/2018/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2018 giữa:

* Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Kiều O - sinh năm: 1979

Địa chỉ: TDP Linh T , phường Cam L , thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu D - Sinh năm: 1978

Địa chỉ: TDP Lợi H , phường Cam L , thành phố CaC, tỉnh Khánh Hòa.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự ;

Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 31 tháng 7 năm 2018.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 31 tháng 7 năm 2018 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Bùi Thị Kiều O và ông Nguyễn Hữu D.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về con chung: Bà Bùi Thị Kiều O trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con chung là Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày: 29/9/2006; Nguyễn Hữu T, sinh ngày: 28/10/2009.

Ông Nguyễn Hữu D cấp dưỡng nuôi các con chung mỗi con mỗi tháng 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) kể từ tháng 6/2018 cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.

* Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

- Về tài sản chung: Ông Nguyễn Hữu D và bà Bùi Thị Kiều O tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Bà Bùi Thị Kiều O nộp 150.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về “Ly hôn” và 150.000 đồng án phí dân sự về “Cấp dưỡng nuôi con” nhưng được trừ vào 9.050.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà Bùi Thị Kiều O đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2016/0012300 ngày 14/5/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố C. Bà Bùi Thị Kiều O được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.750.000 đồng.

Quy định: Kể từ ngày bà Bùi Thị Kiều O có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Nguyễn Hữu D chưa thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng nuôi con thì hàng tháng ông Nguyễn Hữu D còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật tố tụng dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án, người phải thi hành án dân sự cí quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 Điều 7 và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ