- Tranh chấp gì? "NGUYỄN VĂN T"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của người khởi kiện là ông Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 243 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 923/2023/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 10 năm 2023. |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Ngọc Huynh
Các Thẩm phán:
Ông Phan Văn Yên
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số
03/2023/QĐST-HC ngày 25 tháng 5 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa:
- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1966
Địa chỉ: ấp Thạnh L, xã Đồng T1, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền:
Anh Phạm Quốc D, sinh năm 1997.
Địa chỉ: xã Kim T2, huyện Ia P, tỉnh Gia Lai
Địa chỉ liên hệ: 163 Tuệ T3, Phường 12, Quận 11, Thành phố Hồ Chí
Minh
Chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1999.
Địa chỉ: OO1/123 Khu phố B, thị trấn Gò D, huyện Gò D, tỉnh Tây Ninh
Địa chỉ liên hệ: 163 Tuệ T3, Phường 12, Quận 11, Thành phố Hồ Chí
Minh
Trương Thị Ánh L, sinh năm 1999
Địa chỉ: Thôn Phú Q, xã Vụ B, huyện Krông P, tỉnh Đăk Lăk
Địa chỉ liên hệ: 163 Tuệ T3, Phường 12, Quận 11, Thành phố Hồ Chí
Minh
- Người bị kiện:
Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân xã Đồng
T1, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Tại đơn kháng cáo ngày 08 tháng 6 năm 2023, người khởi kiện là ông
Nguyễn Văn T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng phúc thẩm bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.
XÉT THẤY:
Hồ sơ vụ án thể hiện, vào năm 1989, ông Nguyễn Văn L (cha ông
Nguyễn Văn T) có khiếu nại cơ quan có thẩm quyền để xem xét trả lại phần đất của gia đình ông có diện tích 3.200m2 thuộc tờ bản đồ số 3 (nay là thửa 11, tờ bản đồ 16), tọa lạc tại ấp Thạnh L, xã Đồng T1, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Ngày 27/7/1996, Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ban hành Quyết định số 1253/QĐ.UB có nội dung bác đơn khiếu nại của ông L, chỉ chấp thuận giải quyết cho ông L nhận lại 700m2 đất. Năm 2019, ông Nguyễn Văn T bị Ủy ban nhân dân xã Đồng Thạnh lập biên bản vi phạm hành chính về việc đổ đất xây nhà trên thửa đất số 11, tờ bản đồ 16 và ban hành Quyết định số 122/QĐ-XPVPHC ngày 04/6/2019 xử phạt vi phạm hành chính đối với ông T do có hành vi lấn, chiếm đất công. Không đồng ý, ông T khiếu nại Quyết định số 122/QĐ-XPVPHC nêu trên. Ngày 28/6/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đồng Thạnh ban hành Quyết định số 128/QĐ-UBND bác khiếu nại của ông T. Ông T tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Gò Công Tây. Ngày 30/8/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G ban hành Quyết định số 3307/QĐ-UBND không chấp nhận khiếu nại của ông T. Không đồng ý với 02 quyết định giải quyết khiếu nại nêu trên, ngày 25/9/2019, ông T làm đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang nhưng Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang trả lại đơn cho ông T.
Như vậy, có cơ sở xác định, ông T đã biết được Quyết định số
1253/QĐ.UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang từ năm 1996 và biết Quyết định số 3307/QĐ-UBND ngày 30/8/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G từ năm 2019.
Đến ngày 05/4/2023, ông T mới khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết
định số 1253/QĐ.UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang và Quyết định số 3307/QĐ-UBND ngày 30/8/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G. Tại đơn khởi kiện và đơn kháng cáo, ông T xác định chỉ khởi kiện đối với 02 quyết định nêu trên.
[4] Tại điểm a khoản 2, khoản 4 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính quy
định:
“2. Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:
a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính,
hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;”…
“4. Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác
làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện”.
Đối chiếu quy định pháp luật với phân tích trên, tại thời điểm ông T
khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện đối với Quyết định số 1253/QĐ.UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang và Quyết định số 3307/QĐ-UBND ngày 30/8/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G đã hết. Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 15/5/2023, ông T trình bày lý do ông không khởi kiện được trong thời hạn quy định là vì không hiểu biết pháp luật và do mẹ ông T chết nên ông phải làm đám tang cho mẹ. Tuy nhiên, đây không phải sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan khác làm cho ông T không thể thực hiện được việc khởi kiện trong thởi hạn Luật định. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận
kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa án cấp sơ thẩm.
Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T phải chịu.
Căn cứ vào Điều 243 của Luật tố tụng hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Bác kháng cáo của người khởi kiện là ông Nguyễn Văn T.
Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số
03/2023/QĐST-HC ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
2. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000
(Ba trăm ngàn) đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008823 ngày 14/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1); - TAND tỉnh Tiền Giang (1); - VKSND tỉnh Tiền Giang (1); - Cục THADS tỉnh Tiền Giang (1); - Các đương sự (4); - Lưu HSVA (1), VP (5), 15b (QĐ-PPC); | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Vũ Ngọc Huynh |