vanban.org

Quyết định 92/2019/QĐ-TA

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 02/05/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Tro ̣ng T, sinh ngày 28/10/1977 tại Tỉnh Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú tại: Đường X, Phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định; Con ông Huỳnh Văn C (đa chế…

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 21 (Hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Trọng T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Tro ̣ng T, sinh ngày 28/10/1977 tại Tỉnh Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú tại: Đường X, Phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định; Con ông Huỳnh Văn C (đa chế…
  • Căn cứ chính? Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 2 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 92/2019/QĐ-TAQuận 7, ngày 02 tháng 5 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp, gồm có:

Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Bà Lê Phương Thảo

Thư ký ghi biên bản phiên họp: Ông Võ Ngọc Đức

Ngày 02 tháng 5 năm 2019, tại phòng họp Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 78/2019/QĐ-TA ngày 12 tháng 4 năm 2019, đối với:

Họ và tên: Lê Tro ̣ng T

Giới tính: Nam

Sinh ngày 28 tháng 10 năm 1977

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ học vấn: 0/12

Nghề nghiệp: Buôn bán hàng rong

Nguyên quán: Tỉnh K

Địa chỉ thường trú: Đường X, Phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh

Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định

Tiền án: 02 Tiền án

- Bản án hình sự sơ thẩm số 33/HSST ngày 04/3/2002 của Tòa án nhân dân Quận 8, xử phạt 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưở ng án treo, thờ i gian thử thách 01 năm về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Bản án hình sự sơ thẩm số 120/HSST ngày 08/8/2006 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Binh Chánh, xử phạt 01 (Mô ̣t) năm 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Cướ p giâ ̣t tài

̀ sản”

Tiền sự: không có

Con ông Huỳnh Văn C (đa chết) và con bà Bùi Thị L̃

Ông Lê Tro ̣ng T có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Cao Minh Hoàng - Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt);

2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Trần Thị Hồng Gấm – Kiểm sát viên (Có mặt);

NHẬN THẤY:

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 có công văn số 592/LĐ-TBXH ngày 11/4/2019 đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Trọng T do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:

Ngày 27/02/2019, Công an phường Tân Quy, Quận 7 xét nghiệm chất ma túy, kết quả dương tính, ông Lê Trọng T khai nhận có sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp (ma túy đá) nên Công an phường Tân Quy lập hồ sơ đề nghị Chủ tịch Ủy ban Nhân dân phường Tân Quy, Quận 7 ký Quyết định số 39/QĐ-UBND ngày 27/02/2019 đưa ông Lê Trọng T vào Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 để quản lý, cắt cơn giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Công an phường Tân Quy xác minh tại địa chỉ số 432/8 đường Dương Bá Trạc, Phường 01, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả xác minh ngày 27/02/2019, Công an Phường 01, Quận 8, xác nhận đương sự Lê Trọng Tuấn có hộ khẩu thường trú nhưng không thực tế cư trú tại địa phương, hiện không xác định được nơi cư trú của đương sự Lê Trọng Tuấn.

Tại phiên họp hôm nay:

- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 có ý kiến: do ông Lê Trọng T nghiện ma túy, không nơi cư trú ổn định nên các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ đúng trình tự, quy định của pháp luật.

Nay, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Đức Hạnh đối với ông Lê Trọng T thời hạn từ 18 tháng đến 21 tháng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu ý kiến về việc tuân theo Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án:

Tòa án nhân dân Quận 7, Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng quy định về thời hạn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; tiến hành thụ lý và thông báo về việc thụ lý cho Viện Kiểm sát; thực hiện phân công Thẩm phán xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại các Điều 7, 8, 9, 10, 11 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Trọng T đúng theo trình tự, thủ tục và thẩm quyền lập hồ sơ quy định tại Điều 12 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Triệu tập thành phần tham gia phiên họp và trình tự tiến hành phiên họp thực hiện đúng quy định tại Điều 17 và Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 7 đề nghị xem xét theo hướng đồng ý đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 và đề nghị thời hạn chữa bệnh là từ 21 tháng đến 24 tháng.

- Ông Lê Trọng T xác nhận bản thân nghiện ma túy, bị Công an phường Tân Quy, Quận 7 lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nay, ông Lê Trọng T không có ý kiến gì đối với việc Tòa án áp dụng biện pháp bắt buộc cai nghiện.

XÉT THẤY:

Căn cứ Biên bản vi phạm hành chính, Biên bản ghi lời khai do Công an phường Tân Quy, Quận 7 xác lập thể hiện ông Lê Trọng T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, có chữ ký xác nhận của ông Lê Trọng T; căn cứ các bản tường trình, bản tự khai do ông Lê Trọng T tự viết, tự ký tên.

Căn cứ Phiếu yêu cầu xác minh của Công an phường Tân Quy, Quận 7 xác minh tại địa chỉ số Đường X, Phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả xác minh ngày 27/02/2019, Công an Phường Y, Quận Z, xác nhận đương sự Lê Trọng Tuấn có hộ khẩu thường trú nhưng không thực tế cư trú tại địa phương, hiện không xác định được nơi cư trú của đương sự Lê Trọng Tuấn.

Căn cứ Thông báo số 646/TB-TTN2-TN ngày 04/3/2019 và Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy do Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 thể hiện ông Lê Trọng T nghiện ma túy, chất dạng ma túy tổng hợp.

Căn cứ khoản 16 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính “Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này”.

Vậy, Thông báo số 646/TB-TTN2-TN ngày 04/3/2019 và Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy do Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 lập thể hiện ông Lê Trọng T nghiện ma túy là có cơ sở.

Căn cứ các Biên bản vi phạm hành chính, Biên bản ghi lời khai, bản tường trình, bản tự khai, lời trình bày của ông Lê Trọng T tại phiên họp hôm nay, đã xác định ông Lê Trọng T nghiện ma túy, không nơi cư trú ổn định, bị Công an phường Tân Quy, Quận 7 lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Vậy, căn cứ khoản 1 Điều 2 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc áp dụng đối với trường hợp của ông Lê Trọng T không nơi cư trú ổn định.

Từ những nội dung nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Trọng T đã được Công an phường Tân Quy, Ủy ban Nhân dân phường Tân Quy, Quận 7; Phòng Tư pháp Quận 7; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 lập đúng và đầy đủ theo trình tự do pháp luật quy định.

Do đó, đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 là có cơ sở.

Xét ông Lê Trọng T có 02 tiền án, chưa có tiền sự, là người đã trên 18 tuổi, biết rõ chất ma túy là độc hại và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông Lê Trọng T là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh trật tự tại địa bàn dân cư và cũng là nguyên nhân tiềm ẩn, phát sinh các loại tội phạm gây nguy hại đến cộng đồng xã hội nên việc áp dụng biện pháp bắt buộc cai nghiện có thời hạn đối với ông Lê Trọng T là cần thiết.

Từ những nhận định nêu trên, xét ông Lê Trọng T có 02 tiền án, chưa có tiền sự, là người đã trên 18 tuổi, nghiện ma túy, hiện không nơi cư trú ổn định nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 về thời hiệu lập hồ sơ, đối tượng áp dụng, thẩm quyền lập hồ sơ, trình tự thủ tục lập hồ sơ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Tro ̣ng T, sinh ngày 28/10/1977 tại Tỉnh Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú tại: Đường X, Phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định; Con ông Huỳnh Văn C (đa chết) và con bà Bùi Thị L.̃

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 21 (Hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

- Ông Lê Tro ̣ng T được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.

- Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 được quyền kiến nghị trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.

- Viện Kiểm sát nhân dân Quận 7 được quyền kháng nghị trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hiệu khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy Đứ c Ha ̣nh có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ