vanban.org

Quyết định 92/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Trần Minh L và bà Đặng Thị D (Giấy chứng nhận kết hôn số 163/2011, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã HT, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An cấp ngày 13/7/2011).

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: 1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Minh L và bà Đặng Thị D thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Trần Minh L và bà Đặng Thị D (Giấy chứng nhận kết hôn số 163/2011, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã HT, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An cấp ngày 13/7/2011).
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 92/2018/QĐST-HNGĐQuận 12, ngày 24 tháng 01 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 1624/2017/TLST–HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2017 về việc “Tranh chấp về ly hôn” giữa:

* Nguyên đơn: Ông Trần Minh L, sinh năm: 1987

Hộ khẩu thường trú: xã HT, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Địa chỉ tạm trú: phường HT, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

* Bị đơn: Bà Đặng Thị D, sinh năm: 1988

Hộ khẩu thường trú: xã HT, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Địa chỉ tạm trú: phường HT, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 16 tháng 01 năm 2018,

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 16 tháng 01 năm 2018 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Trần Minh L và bà Đặng Thị D (Giấy chứng nhận kết hôn số 163/2011, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân xã HT, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An cấp ngày 13/7/2011).

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Minh L và bà Đặng Thị D thuận tình ly hôn.

2.2. Về con chung: Giao cho ông Trần Minh L trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Đặng Kim T, sinh ngày 06/4/2012;

Tạm hoãn việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà Đặng Thị D cho đến khi một hoặc hai bên có yêu cầu;

Vì lợi ích con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con; không ai được quyền cản trở việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

2.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2.4. Về án phí: 150.000 (Một trăm năm mươi ngàn) đồng ông Trần Minh L tự nguyện chịu. Ông Trần Minh L đã nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2017/0035037 ngày 15 tháng 12 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh nên được cấn trừ và hoàn tiền còn dư cho ông L là 150.000 (Một trăm năm mươi ngàn) đồng.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ