vanban.org

Quyết định 91/2025/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;
  • Căn cứ chính? Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 23 Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục Tòa án nhân…; Điều 24 Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục Tòa án nhân…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:91/2025/QĐ-TAThành phố Hồ Chí Minh , ngày 24 tháng 10 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Lê Thị H

2. Thư ký phiên họp: Bà Bùi Lê Anh Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân Khu

vực 12- Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 24 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 –

Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 55/QĐ-TA ngày 15 tháng 10 năm 2025, đối với:

Họ và tên: Nguyễn Thị Cẩm T, Giới tính:Nữ; Sinh ngày 03-12-2008;

Căn cước công dân số: 089308022467. Nơi cấp: Cục C về TTXH; Nghề

nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã Đ, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; Con ông Nguyễn Văn H1 và bà Phạm Ngọc B; tiền án, tiền sự: Không.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đào Dũng T1– Cán bộ Công an phường

P, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12- Thành phố Hồ Chí Minh:

Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.

3. Người giám hộ của người bị đề nghị: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm

1982 và bà Phạm Ngọc B, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp H, xã Đ, tỉnh An Giang (Ông H1 có mặt, bà B vắng mặt).

4. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị: Bà Mai Thị

H2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước số 3 - Thành phố H (Có mặt)

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên họp, nội dung hồ sơ

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Cẩm T, sử dụng ma túy Methaphetamine từ năm 2024. Ngày

03-9-2025, Công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét nghiệm và lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời phối hợp cùng Trung tâm y tế thành phố P theo dõi xác định tình trạng nghiện, xác định Nguyễn Thị Cẩm T là người nghiện ma túy vào ngày 04-9-2025, Nguyễn Thị Cẩm T đã được thông báo tình trạng nghiện ma túy nhưng Nguyễn Thị Cẩm T từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện.

Tại Biên bản làm việc ngày 03-9-2025, ông Nguyễn Văn H1 – cha của T

là người giám hộ trình bày gia đình ông không có điều kiện để cho T cai nghiện tự nguyện và đồng ý với đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị Cẩm T.

Ngày 04-9-2025, Công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh đã lập biên

bản vi phạm về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Nguyễn Thị Cẩm T. Trưởng Công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ đề nghị Nguyễn Thị Cẩm T đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định.

Tại phiên họp:

- Đại diện Công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên đề

nghị Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh xem xét ban hành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị Cẩm T, đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 09 tháng.

- Nguyễn Thị Cẩm T thừa nhận bản thân là người nghiện ma túy, tần suất

sử dụng 02-03 lần/tuần phải phụ thuộc vào ma túy; công nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Người giám hộ của T là ông Nguyễn Văn H1 và người bảo vệ quyền lợi

ích hợp pháp của T đồng ý với đề nghị của Công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12- Thành phố Hồ Chí

Minh.

- Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã tuân thủ theo pháp luật trong việc

xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Cơ quan đề nghị và người bị đề nghị đã tuân thủ các quy định của pháp

luật.

- Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã

tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan và đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị Cẩm T.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ, ý kiến của người đại diện Cơ quan đề nghị và đại

diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến. Thẩm phán chủ trì phiên họp nhận định:

. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

- Thẩm quyền giải quyết:

Thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 12- Thành phố Hồ Chí

Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số: 08/2025/UBTVQH15 ngày 27-6-2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Trình tự, thủ tục lập hồ sơ:

Cơ quan lập hồ sơ đề nghị theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 9 Thông

tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01-3-2025; các Điều 50, Điều 51 Nghị định 116/2021/NĐ-CP, ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, nhân thân, mức

độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng:

. Theo lời khai có trong quá trình lập hồ sơ, Nguyễn Thị Cẩm T đã

thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình. Lời khai của Nguyễn Thị Cẩm T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nên có cơ sở xác định Nguyễn Thị Cẩm T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 04-9-2025 của Trung tâm y tế thành phố P kết luận Nguyễn Thị Cẩm T là người nghiện ma túy Methamphetamine. Nguyễn Thị Cẩm T là đối tượng nghiện ma túy đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên thuộc trường hợp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 33 Luật phòng, chống ma túy.

. Nguyễn Thị Cẩm T nhận biết được tác hại của ma túy đối với bản

thân và gia đình, xã hội nhưng từ chối cai nghiện tự nguyện. Do đó, cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị Cẩm T một thời gian tương xứng với hành vi và mức độ vi phạm để có thể học tập, rèn luyện, cai nghiện và từ bỏ được ma túy trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội.

Xét đề nghị của Công an phường P đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt

buộc đối với Nguyễn Thị Cẩm T là cần thiết để quản lý cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý. Đồng thời, làm giảm tác hại liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 27, 33 Luật phòng chống ma tuý;

- Các Điều 50, 51 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của

Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

- Điều 8, 23, 24, 36, 37 Pháp lệnh số: 01/2022/UBTVQH15 ngày 24-3-

2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

- Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số: 08/2025/UBTVQH15 ngày 27-6-2025 của

Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Điều 9 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC

ngày 01-3-2025,

1. Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị Cẩm T tại Cơ sở

cai nghiện ma túy số F, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 09 (chín) tháng, kể

từ ngày người bị đề nghị bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 06-9-2025).

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Người bị đề nghị; người giám

hộ của người bị đề nghị; Trưởng Công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12- Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; Cơ sở Cai nghiện ma túy

số 06, Phòng PC04, Công an Thành phố H có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ