vanban.org

Quyết định 91/2020/QĐ-PT

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 21/04/2020 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/04/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Hữu T.

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 49/2019/QĐST-HC ngày 26 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Ông Lê Hữu T kiện Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Hữu T.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 243 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 91/2020/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 4 năm 2020.

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp:

Ông Phan Nhựt Bình

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Trí Tuấn

Ông Nguyễn Văn Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên họp: Ông Phạm Công Minh - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số

49/2019/QĐST-HC ngày 26 tháng 9 năm 2019, Tòa án nhân dân tỉnh Long An căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 116, điểm g khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa các đương sự:

- Người khởi kiện:

Ông Lê Hữu T, sinh năm 1982.

Địa chỉ: ấp 5, xã A, huyện T, tỉnh Long An.

- Người bị kiện:

Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty TNHH MTV N

Địa chỉ: 25/1 QL1, xã H, huyện L, tỉnh Long An.

Tại đơn kháng cáo ngày 12 tháng 10 năm 2019, người khởi kiện ông Lê

Hữu T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính nêu trên với lý do: Ông đã nộp tiền tạm ứng án phí, Tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án nên việc đình chỉ giải quyết vụ án do đã hết thời hiệu của Tòa án cấp sơ thẩm là không đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát

biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông T, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.

XÉT THẤY:

Tại Đơn khởi kiện ngày 09/01/2019, Đơn khởi kiện bổ sung ngày

18/3/2019, ông Lê Hữu T khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An về việc giao đất cho Công ty L (nay là Công ty TNHH MTV N) san lấp mặt bằng là trái pháp luật và yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện T bồi thường thiệt hại hoa màu do hành vi hành chính trái pháp luật gây ra từ năm 2007 – 2010 với số tiền là 135.000.000 đồng.

Ngày 21/8/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số

1107/QĐ-TTg phê duyệt dự án xây dựng Khu công nghiệp An Nhựt Tân (xã A, huyện T, tỉnh Long An). Ngày 21/3/2007, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An ban hành Quyết định số 1295/QĐ-UBND về việc cho chủ trương triển khai kê biên bồi thường đất và tài sản trên đất. Ngày 26/3/2007, Ủy ban nhân dân tỉnh Long An ban hành văn bản số 1373/UBND-KT về việc đầu tư mở rộng khu công nghiệp An Nhựt Tân. Năm 2007-2008, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành các quyết định thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ thiệt hại cho ông Lê Hữu T và giao đất cho Công ty L (nay là Công ty TNHH MTV N) để triển khai thực hiện dự án.

Ông Lê Hữu T đã nhận tiền bồi thường vào năm 2007 nhưng không

đồng ý với đơn giá bồi thường, hỗ trợ nên đã khiếu nại và khởi kiện quyết định bồi thường của Ủy ban nhân dân huyện T và được giải quyết kéo dài từ năm 2007 đến năm 2017. Tại Điều 39, 40 Luật đất đai năm 1993 quy định trường hợp có hộ dân không tự nguyện giao đất thì vẫn phải bị cưỡng chế giao đất mà không phụ thuộc vào việc khiếu kiện quyết định thu hồi và bồi thường. Do đó, việc khiếu kiện của ông T đối với các quyết định hành chính về bồi thường và hỗ trợ của UBND huyện T, không phải là căn cứ để tạm dừng triển khai dự án nêu trên. Mặt khác, tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 18/3/2019, ông Lê Hữu T xác định đã biết việc Ủy ban nhân dân huyện T cho phép Công ty TNHH MTV N tiến hành san lấp mặt bằng đối với diện tích đất bị thu hồi đã xảy ra từ 2007 đến 2010 nên ông không sản xuất được trong khoảng thời gian này.

Tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy

định về thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày người khởi kiện nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Đối chiếu với qui định pháp luật, đến ngày 09/01/2019, ông T mới nộp

đơn khởi kiện vụ án hành chính đối với hành vi giao đất cho Công ty TNHH L của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An là đã hết thời hiệu khởi kiện nên Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là đúng.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận

yêu cầu kháng cáo của ông T và giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa án cấp sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở chấp nhận.

Án phí hành chính phúc thẩm: ông T phải chịu theo quy định pháp luật

án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 243 của Luật tố tụng hành chính,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Hữu T.

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số

49/2019/QĐST-HC ngày 26 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

2. Án phí hành chính phúc thẩm: ông Lê Hữu T phải chịu 300.000 (ba trăm

ngàn) đồng, được cấn trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0000793 ngày 07 tháng 02 năm 2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ