vanban.org

Quyết định 902/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố Mất NLHVDS và chỉ định người giám hộ (Linh_Em)"
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 902/2019/QĐST-DSBình Chánh, ngày 29 tháng 11 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI LÀ MẤT NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Hồng Vân.

Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Kim Ngân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị Thái-kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 676/2019/TLST-VDS ngày 18/10/2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là mất năng lực hành vi dân sự”, theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số: 24/2019/QĐST-DS ngày 20/11/2019, giữa các đương sự:

-Người yêu cầu: Bà Phan Thị Giao L, sinh năm 1989 ( Có mặt).

Địa chỉ: D3/533 ấp 4, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

-Người bị yêu cầu: Bà Phan Thị E, sinh năm 1969 (vắng mặt).

Địa chỉ: D3/533 ấp 4, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

-Người có quyền, lợi ích liên quan:

1/ Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1969 (có mặt).

2/ Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 2000 (xin vắng mặt).

Cùng địa chỉ: D3/533 ấp 4, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong quá trình tố tụng tại Tòa án, người yêu cầu- bà Phan Thị Giao L trình bày:

Bà Phan Thị E (sinh năm 1969) có chồng là ông Nguyễn Thanh H (sinh năm 1969). Bà E và ông H có 02 con chung là bà Phan Thị Giao L (sinh năm 1989) và ông Nguyễn Thanh L (sinh năm 2000). Cha mẹ của bà Phan Thị E là ông Phan Văn C và bà Trương Thị T (1928-2012) đều đã chết.

Bà Phan Thị Giao L xác định hiện nay ông Nguyễn Thanh H đang làm thủ tục ly hôn với bà Phan Thị E và đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh thụ lý vụ án.

Do mẹ của bà là bà Phan Thị E bị tai biến năm 2015, sau đó tiếp tục bị tai biến năm 2017. Hiện tại, không nhận biết được nhiều, vận động và giao tiếp kém. Nay, để bổ túc thủ tục ly hôn cho mẹ của bà và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho mẹ của bà nên bà yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Phan Thị E là người mất năng lực hành vi dân sự và đề nghị Tòa án chấp nhận cho bà là người Giám hộ hợp pháp của Bà E.

Người có quyền, lợi ích liên quan:

[1]- Ông Nguyễn Thanh H là chồng hợp pháp của bà Phan Thị E xác định: hiện nay ông đang làm thủ tục ly hôn Bà E do Thẩm phán Nguyễn Tấn Việt thụ lý giải quyết. Ông xác định ông không đồng ý với kết luận giám định Bà E bị mất năng lực hành vi dân sự nhưng không có yêu cầu giám định lại, cũng không đưa được căn cứ hay chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của ông về việc Bà E không bị mất năng lực hành vi dân sự. Ông H không đồng ý với yêu cầu của bà Phan Thị Giao L (con gái của ông) làm người giám hộ cho Bà E nhưng cũng không chỉ ra được lý do nào bất hợp lý như mâu thuẫn lợi ích hay không có khả năng chăm sóc, giám hộ Bà E. Ông cũng thừa nhận ông và Bà E đã không còn tình cảm và ông không muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với Bà E nữa. Về cha mẹ của Bà E là ông Cvà bà T thì hai người này đã chết trước đây, ông không còn nhớ rõ nữa.

[2]- Ông Nguyễn Thanh L thống nhất yêu cầu của bà L, đề nghị Tòa án tuyên bố Bà E là người mất năng lực hành vi dân sự và đồng ý cử bà L là người giám hộ cho Bà E. Ông Nguyễn Thanh L xác định hiện nay ông H đã bỏ nhà đi từ lâu không còn chung sống với Bà E và hai con nữa.

Tại phiên họp, người yêu cầu: Bà Phan Thị Giao L giữ nguyên yêu cầu, ông Nguyễn Thanh L có đơn xin vắng mặt, ông H không có ý kiến gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh-Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Giao L về việc tuyên bố bà Phan Thị E là người mất năng lực hành vi dân sự và đồng ý yêu cầu của bà Linh về việc cử bà Linh làm người Giám hộ cho Bà E theo quy định của Bộ luật dân sự 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ lời trình bày của đương sự và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh -Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh-Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về tố tụng:

[1]-Căn cứ yêu cầu của đương sự đề nghị Tòa án xác nhận sự kiện pháp lý về việc một người là mất năng lực hành vi dân sự thuộc khoản 1 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 54 Bộ luật Dân sự năm 2015 (xác định người giám hộ trong trường hợp có tranh chấp việc cử người giám hộ).

-Căn cứ nơi cư trú của bà Phan Thị E thực tế đang cư trú tại D3/533 ấp 4, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Do vậy, vụ việc thuộc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” và thẩm quyền giải quyết tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh-Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 54 Bộ luật dân sự năm 2015.

-Các đương sự Phan Thị Giao L, H có mặt tại phiên họp; Đương sự Nguyễn Thanh L xin vắng mặt.

Về nội dung vụ việc:

- Về việc xác định đương sự mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi:

Căn cứ vào kết luận giám định của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh số 5723/2019/KLGĐTC ngày 31 tháng 10 năm 2019 xác định: “ đương sự bị bệnh sa sút tâm thần trong nhồi máu não nhiều lần, mức độ nặng (F01.1-ICD10). Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”-BL 54.

Căn cứ vào việc ông H không có cơ sở nào khác để bác bỏ kết luận giám định của Trung tâm giám định pháp y tâm thần TPHCM và cũng không có yêu cầu giám định lại, do vậy, đủ cơ sở công nhận việc Bà E là người mất năng lực hành vi dân sự.

- Về việc chỉ định người giám hộ:

Căn cứ vào lời thừa nhận của ông Nguyễn Thanh H (chồng hợp pháp của bà Phan Thị E) cho biết đang làm thủ tục ly hôn, không muốn duy trì hôn nhân với Bà E nữa. Do đó, xác định ông H không đủ điều kiện để thực hiện việc giám hộ cho Bà E và/ hoặc có khả năng dẫn đến mâu thuẫn lợi ích khi thực hiện việc giám hộ. Vì vậy, ông H không thể là người giám hộ đương nhiên theo quy định tại khoản 1 Điều 53 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Mặt khác, các bên có tranh chấp về cử người giám hộ nên Tòa án tiến hành chỉ định người giám hộ theo quy định tại Điều 54 của Bộ luật dân sự năm 2015. Phía ông H không chỉ ra được người nào làm người giám hộ khác với đề nghị của chính bà Phan Thị Giao L sẽ là người giám hộ cho Bà E. Thẩm phán chủ trì phiên họp xác định đề nghị của bà Phan Thị Giao L là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Bộ luật Dân sự năm 2015 về người giám hộ đương nhiên là người con cả trong trường hợp cha mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự còn người kia không đủ điều kiện để làm người giám hộ. Vì vậy, Tòa án chỉ định bà Phan Thị Giao L là người giám hộ cho bà Phan Thị E.

Bà Phan Thị Giao L thực hiện quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại các Điều 57,58,59 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc Giám sát việc thực hiện giám hộ liên quan đến tài sản của người được giám hộ thực hiện theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và thực hiện đăng ký tại ủy ban nhân dân nơi người được giám hộ cư trú. Việc thay đổi, chuyển giao, chấm dứt, hậu quả của việc chấm dứt việc giám hộ thực hiện theo quy định tại các Điều 60,61,62,63 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

-Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thị Giao L phải chịu theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 377, Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, các Điều từ Điều 57 đến Điều 63 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Giải quyết:

[1]- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Phan Thị Giao L, cụ thể:

Tuyên bố bà Phan Thị E-CMND: xxxxxxxxx, sinh ngày 27/9/1969, nơi cư trú D3/533 ấp 4, xã Bình Lợi, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự.

[2]- Chỉ định bà Phan Thị Giao L là người giám hộ cho bà Phan Thị E. Bà Linh thực hiện quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại các Điều 57,58,59 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc Giám sát việc thực hiện giám hộ liên quan đến tài sản của người được giám hộ thực hiện theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và thực hiện đăng ký tại ủy ban nhân dân nơi người được giám hộ cư trú. Việc thay đổi, chuyển giao, chấm dứt, hậu quả của việc chấm dứt việc giám hộ thực hiện theo quy định tại các Điều 60,61,62,63 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3]- Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Bà Phan Thị Giao L phải chịu lệ phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai số AA/2019/0008807 ngày 16/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Lệ phí dân sự sơ thẩm đã được thi hành xong.

[4]-Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp được quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày công bố. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ quyết định. Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày công bố quyết định.

[5]-Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ