vanban.org

Quyết định 90/QĐ-TA

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 08/11/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện Ma túy tỉnh Gia Lai ( ngày 22/8/2019).(ngày 22/8/2019). Trong thời hạn 03 ngày làm việc, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 90/QĐ-TAPleiku, ngày 08 tháng 11 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Thu.

2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Nhớ.

Ngày 08 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 85/QĐ-TA ngày 01 tháng 11 năm 2019, đối với:

Họ và tên: Phạm Ngọc T; Giới tính: Nam; sinh ngày 03/4/1994; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 8/12; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 9, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nơi hiện đang cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; tiền án: 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản; tiền sự: Không. Vắng mặt tại phiên họp. Có đơn xin vắng mặt.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hoàng Đức Tân - Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai: Bà Cao Thảo Nga - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T thể hiện:

Ông Phạm Ngọc T đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 9, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai nhưng theo Phiếu trả lời xác minh của Công an phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai thì ông Phạm Ngọc T không có nơi cư trú ổn định.

Ngày 22 tháng 8 năm 2019, ông Phạm Ngọc T bị Công an phường Thắng L, thành phố P, tỉnh Gia Lai lập Biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng người nghiện ma túy ngày 21 tháng 8 năm 2019 của Trạm y tế phường Thắng L, thành phố P, tỉnh Gia Lai đã xác định ông Phạm Ngọc T nghiện chất ma túy Methamphetamine, Amphetamin.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T với thời hạn từ 20 đến 24 tháng.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T với thời hạn từ 20 đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và đầy đủ các văn bản theo quy định tại Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 13 của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và khoản 1, khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T vẫn còn theo quy định điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính và tại Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Xét ông Phạm Ngọc T là người đủ 18 tuổi, nghiện chất ma túy, không có nơi cư trú ổn định nên thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105, Điều 107, Điều 108 và Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ vào các Điều 3, Điều 22, Điều 23, Điều 30 và Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ vào các Điều 4, Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 13 và Điều 15 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013, khoản 1 và khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Ngọc T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Cai nghiện Ma túy tỉnh Gia Lai ( ngày 22/8/2019).(ngày 22/8/2019).

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án. Ông Phạm Ngọc T có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Cỡ chữ