vanban.org

Quyết định 90/2020/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, Điều 149, Điều 161, Điều 361, Điều 367, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự.

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Lê Công T và bà Nguyễn Thị O về việc Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Chấm dứt việc nuôi con nuôi"
  • Tòa quyết gì? 39, Điều 149, Điều 161, Điều 361, Điều 367, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 90 /2020/QĐST -HNGĐHà Nội, ngày 28 tháng 2 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

Với thành phần giải quyết việc Hôn nhân và gia đình gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Bích Hạnh

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân

quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia

phiên họp: Bà Phạm Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân Quận Đống Đa tiến

hành mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Hôn nhân và gia đình thụ lý số 83/2020/HNGĐST ngày 06/02/2020 về việc "Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 60//QĐ-MPH ngày 10/02/2020, giữa:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1. Ông Lê Công T, sinh năm 1962

Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ 4, Cụm 2, phường K, quận T, thành

phố H. (Có mặt tại phiên họp).

2. Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1972

Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Xóm K, Thôn M, Xã P, huyện C, thành

phố H. (Có mặt tại phiên họp).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1938

Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: C13b, Tập thể K, phường K, quận Đ,

thành phố H. (Vắng mặt tại phiên họp)

2. Cháu Lê Hoàng H, sinh ngày 13/11/2008

Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ 4, Cụm 2, phường K, quận T, thành

phố H.

Người đại diện hợp pháp của cháu Hoàng H: Ông Lê Công T và bà Nguyễn

Thị O (Có mặt tại phiên họp).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Tại Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Yêu cầu chấm dứt việc

nuôi con nuôi” ngày 12/12/2019 và các lời khai tại Tòa án, người yêu cầu là ông Lê Công T và bà Nguyễn Thị O; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T cùng thống nhất trình bày:

Ông Lê Công T và bà Nguyễn Thị O kết hôn với nhau ngày 08/01/1992 có

đăng ký kết hôn tại UBND phường Y, thị xã H, tỉnh H. Trong thời kỳ hôn nhân với nhau, ông bà có 01 người con chung là cháu Lê Hoàng H (giới tính nam), sinh ngày 03/11/2008 theo Giấy khai sinh số 117 quyển số 01 ngày 30/12/2008 do UBND xã P, huyện C, thành phố H cấp. Khi cháu H còn nhỏ thì ông T và bà O thường phải đi công tác xa nên không thể trông nom, chăm sóc cháu H được nên ông T và bà O đã đồng ý để ông Nguyễn Văn T (sinh năm 1938; Chứng minh thư nhân dân số xxxxxxxxx do Công an thành phố Hà Nội cấp ngày 25/5/2006; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: P103, C13b, Tập thể Kim Liên, phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội) nhận cháu H làm con nuôi để tạo điều kiện cho cháu H được chăm sóc tốt hơn. Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, thành phố H đã cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01/2014 quyển số 01/2010 ngày 29/04/2014 cho người cha nuôi là ông Nguyễn Văn T đối với người con nuôi là cháu Lê Hoàng H.

Nay ông Lê Công T và bà Nguyễn Thị O không phải đi công tác xa và có đủ

điều kiện để nuôi dạy và chăm sóc cho cháu Lê Hoàng H nên ông Lê Công T và bà Nguyễn Thị O có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Nguyễn Văn T và cháu Lê Công H. Ông Nguyễn Văn T đồng ý với yêu cầu của ông Lê Công T và bà Nguyễn Thị O cùng đề nghị Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Nguyễn Văn T đối với cháu Lê Hoàng H.

Ngoài ra, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.

Về lệ phí: Ông Lê Công T tự nguyện chịu cả 300.000 đồng lệ phí giải quyết

việc Hôn nhân và gia đình về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Tại phiên họp hôm nay, ông T và bà O vẫn giữ nguyên những ý kiến đã nêu

trên.

Tại Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, ông T xin giữ nguyên các lời khai đã

trình bày tại Tòa án trước đây và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội

phát biểu ý kiến:

- Về việc thực hiện tố tụng: Quá trình giải quyết việc “Yêu cầu chấm dứt

việc nuôi con nuôi” và tại phiên họp hôm nay Thẩm phán và Thư ký đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị Tòa án ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông Lê

Công T và bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn T về việc chấm dứt nuôi con nuôi giữa ông Nguyễn Văn T đối với cháu Lê Hoàng H.

- Về lệ phí: Ông Lê Công T và bà Nguyễn Thị O phải chịu lệ phí theo quy

định của pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của ông T tự nguyện chịu cả 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được

thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Theo quy định tại Điều 10 Luật nuôi con nuôi năm

2010 thì “Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”. Ngoài ra, theo quy định tại điểm l khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì “Tòa án nơi cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”. Xét thấy, người nhận con nuôi là ông Nguyễn Văn T có Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: C13b, Tập thể K, phường K, quận Đ, thành phố H. Do đó Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đã thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền về lãnh thổ và loại việc quy định tại khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm l khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về nội dung giải quyết: Cháu Lê Hoàng H, sinh ngày 13/11/2008 là

con đẻ của ông Lê Công T và bà Nguyễn Thị O. Năm 2014. vợ chồng ông Lê Công T và bà Nguyễn Thị O đã đồng ý để ông Nguyễn Văn T nhận cháu Lê Hoàng H làm con nuôi để tiện việc chăm sóc trong thời gian vợ ông T và bà O đi công tác. Việc nhận con nuôi này đã được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, thành phố H đã cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01/2014 quyển số 01/2010 ngày 29/04/2014 cho người cha nuôi là ông Nguyễn Văn T đối với người con nuôi là cháu Lê Hoàng H.

Nay ông Lê Công T và bà Nguyễn Thị O đã có đủ điều kiện để chăm sóc,

dạy dỗ cháu Lê Hoàng H nên ông Lê Công T và bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Văn T đều thống nhất thỏa thuận chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Nguyễn Văn T và cháu Lê Hoàng H. Xét thấy, việc ông T và bà O có đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông T và cháu H đã được ông T, bà O và ông T thống nhất thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện phù hợp với khoản 3 Điều 26 Luật Nuôi con nuôi nên đủ căn cứ chấp nhận đơn yêu cầu của ông T và bà O về việc nuôi con nuôi giữa ông T và cháu H.

Về lệ phí: Căn cứ Ðiều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Ðiều 37

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Lê Công T và bà Nguyễn Thị O mỗi người phải chịu 150.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Công T tự nguyện chịu cả 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 27 Luật nuôi con nuôi.

Căn cứ Khoản 5 Điều 29, điểm b Khoản 2 Điều 35, điểm l Khoản 1 Điều

39, Điều 149, Điều 161, Điều 361, Điều 367, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Lê Công T và bà Nguyễn Thị O về việc

“Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi”.

Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Nguyễn Văn T với cháu Lê Hoàng H,

sinh ngày 13/11/2008 theo Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01/2014 quyển số 01/2010 ngày 29/04/2014 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, thành phố H.

Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết

định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Lệ phí: Ông Lê Công T và bà Nguyễn Thị O mỗi người phải chịu 150.000

đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Công T tự nguyện chịu cả 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng, ông Lê Công T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009849 ngày 06/02/2020.

Ông Lê Công T, bà Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo,

Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ