vanban.org

Quyết định 89/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lương Diểm H.

Chị Lương Diểm H được ly hôn với anh Trương Văn D. Các đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H-D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lương Diểm H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
HUYỆN MỎ CÀY NAM
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09-7-2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Nam;

2. Ông Võ Nhân Nghĩa.

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Nhật Trường – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia phiên tòa : Bà Lê Thị Diệu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 199/2024/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 5 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 281/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 20/6/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lƣơng Diểm H, sinh năm 1996;

Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre, có mặt.

Bị đơn: Anh Trƣơng Văn D, sinh năm 1990;

Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn Lương Diểm H trình bày:

Chị Lương Diểm H và anh Trương Văn D tự nguyện kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, anh D không quan tâm đến vợ, con.

Trong thời gian sống chung, vợ chồng chị có một con chung tên Trương Quốc A, sinh ngày 17 tháng 3 năm 2020, hiện đang sống chung với Cha, Mẹ chị H ở tỉnh Cà Mau do chị H đang đi làm thuê, không có nhà ở nên chị đưa con về gửi nhờ ông, bà Ngoại nuôi giữ.

Vợ chồng chị không có tài sản chung và cũng không có nợ chung.

Do mâu thuẫn giữa vợ chồng chị đã rất trầm trọng, không còn tình cảm yêu tH nhau nữa nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh D, chị không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.

Về con chung: Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con, chị yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.

Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo Bản khai đề ngày 10 tháng 6 năm 2024 và tại phiên toà sơ thẩm, bị đơn Trương Văn D trình bày:

Anh D và chị H vẫn sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn như chị H trình bày, anh và chị H không có thời gian sống ly thân. Việc chị H yêu cầu ly hôn vì trước đó chị H có đề nghị với anh D về việc vợ chồng ly hôn giả để chị H đi xuất khẩu lao động do kinh tế gia đình khó khăn nhưng anh D không đồng ý.

Anh D cho rằng cuộc sống vợ chồng vẫn bình thường, không có mâu thuẫn gì trầm trọng nên anh D không đồng ý ly hôn, yêu cầu Toà án bác đơn khởi kiện của chị H.

Con chung của vợ chồng trước đây vẫn sống cùng anh, chị nhưng chị H đã đưa cháu về quê Ngoại ở, anh không liên lạc được nên anh D yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Lý do anh D yêu cầu nuôi con là do anh là con trai một trong gia đình, đang sống chung với Cha, Mẹ anh, có nơi ở ổn định; bản thân anh có công việc, có thu nhập ổn định mỗi tháng trung bình 10.000.000 đồng còn chị H mặc dù có công việc, có thu nhập nhưng hiện tại vẫn đang ở nhà thuê, không có điều kiện nuôi con tốt bằng anh.

Vợ chồng anh không có tài sản chung và cũng không có nợ chung.

Phát biểu quan điểm về vụ án tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam nhận định:

Về tố tụng:

Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng và đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng. Thẩm phán, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lương Diểm H.

Về con chung: Giao cho anh D được quyền trực tiếp nuôi con tên Trương Quốc A, sinh ngày 17 tháng 3 năm 2020, ghi nhận việc anh D không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lương Diểm H và nội dung tranh chấp cần phải giải quyết, Tòa án xác định đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình về việc: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con” được quy định tại các điều 51, 56 và 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.

Bị đơn Trương Văn D hiện đang đăng ký thường trú và cư trú tại ấp A, xã Đ, huyện M nên căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam theo trình tự sơ thẩm.

Về nội dung giải quyết:

Xem xét, giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Lương Diểm H, Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị Lương Diểm H và anh Trương Văn D tự nguyện kết hôn năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre nên hôn nhân của chị H và anh D là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Sau khi kết hôn, chị H và anh D sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hàn gắn được và chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn, nguyên nhân theo chị H nêu là do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh D không quan tâm đến vợ con nhưng anh D cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không lớn nên không đồng ý ly hôn.

Sau nhiều lần động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị H không đồng ý, cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh D, cho thấy khả năng đoàn tụ giữa vợ chồng chị H và anh D là không có và mâu thuẫn vợ chồng giữa chị và anh đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

Các đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng nên không xem xét.

Về con chung: Chị H và anh D có một con chung tên Trương Quốc A, sinh ngày 17 tháng 3 năm 2020, hiện đang sống chung với Cha, Mẹ chị H ở tỉnh Cà Mau.

Tại phiên toà sơ thẩm, chị H và anh D không thoả thuận được ai là người trực tiếp nuôi con và có tranh chấp về việc nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện tại chị H không có nơi ở ổn định, bản thân phải ở nhà thuê. So với anh D thì điều kiện nuôi con của chị H không được tốt bằng. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, Hội đồng xét xử quyết định giao cho anh D được quyền trực tiếp nuôi con.

Ghi nhận việc anh D không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đề cập đến.

Về án phí: Chị Lương Diểm H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Xét thấy quan điểm và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 24 và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lương Diểm H.

Chị Lương Diểm H được ly hôn với anh Trương Văn D.

Các đương sự không có yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.

2. Về con chung:

Buộc chị Lương Diểm H giao con chung tên Trương Quốc A, sinh ngày 17 tháng 3 năm 2020 cho anh Trương Văn D trực tiếp nuôi.

Ghi nhận việc anh D không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đề cập đến.

4. Về án phí: Chị Lương Diểm H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0005385, ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam là đủ.

5. Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày ngày tuyên án, các đương sự đều có mặt được quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ