vanban.org

Quyết định 89/2019/QĐST-DS — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 27/08/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC – Chi nhánh T số tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng số N.A.0126.

Tiền lãi suất tính từ ngày tiếp theo là ngày 28/8/2019. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án vẫn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án"
  • Tòa quyết gì? Anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC – Chi nhánh T số tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng số N.A.0126.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 416 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH LƯU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 89/2019/QĐST-DSMẫu số 32-VDS / NQ số 04/2018/NQ-HĐTP ngày 09 tháng 8 năm 2018
Quỳnh Lưu, ngày 27 tháng 8 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH NGOÀI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Hồ Sỹ Mạnh

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu mở phiên họp xét công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án thụ lý số 74/2019/TLST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2019 về việc “Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án”; theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 107/2019/QĐST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2019.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC.

Địa chỉ: Tháp G, số A, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T - Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thanh S - Giám đốc Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC - Chi nhánh T.

Người được ủy quyền lại: Ông Hoàng Đức V – Phó giám đốc phòng giao dịch Nguyễn Trãi – Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC - Chi nhánh T – Có mặt.

Địa chỉ: Số H, đường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1970 – Có mặt

Chị Bùi Thị K, sinh năm 1972 (vợ anh Đ) – Có mặt

Cùng cư trú: Xóm N, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An công nhận kết quả hòa gải thành ngoài Tòa án nội dung: Anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K có nghĩa vụ trả cho ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC – Chi nhánh T Vinh theo hợp đồng tín dụng số N.A.0126.14/HĐTD ngày 04/11/2014 với số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 23/5/2019 là 285.606.420đ (Hai trăm tám mươi lăm triệu sáu trăm triệu sáu trăm linh sáu nghìn bốn trăm hai mươi đồng); Tiền lãi tiếp tục tính từ ngày tiếp theo 24/5/2019.

Trường hợp anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC thông qua ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC – Chi nhánh T có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự kê biên, đấu giá tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án theo hợp đồng thế chấp số N.A.0126.14/HĐTC ngày 03/11/2014 giữa ngân hàng TMCP phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long – Chi nhánh Nghệ An – phòng giao dịch Nguyễn Trãi với anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành án xong hàng tháng bên phải thi hành án vẫn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng số N.A.0126.14/HĐTD ngày 04/11/2014 giữa Ngân hàng với anh Đoà, chị K.

Tại phiên họp, đại diện ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC – Chi nhánh T yêu cầu anh Đ, chị K phải trả nợ tính đến ngày mở phiên họp là 27/8/2019 cụ thể như sau: Tổng số tiền là 279.211.500đ (Hai trăm bảy mươi chín triệu hai trăm mười một nghìn năm trăm đồng); trong đó tiền gốc:180.680.000đồng; tiền lãi suất trong hạn 60.932.300 đồng, tiền lãi suât quá hạn 37.599.200 đồng. Tiền lãi suất tiếp tục tính từ ngày tiếp theo 28/8/2019 cho đến khi thanh toán xong nợ cho ngân hàng theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng số N.A.0126.14/HĐTD ngày 04/11/2014.

Tại phiên họp anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K nhất trí trả tiền gốc và lãi suất cho ngân hàng tính đến ngày 27/8/2019 tổng số tiền là 279.211.500 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nhận định:

Căn cứ hợp đồng tín dụng số N.A.0126.14/HĐTD ngày 04/11/2014 và giấy nhận nợ (kèm theo hợp đồng tín dụng số N.A.0126.14/HĐTD ngày 04/11/2014) đã giao kết giữa ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC với bên vay là anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K. Theo dó, anh Đ, chị K vay của ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC số tiền 200.000.000 đồng; mục đích vay để bổ sung vốn kinh doanh đồ gỗ mộc dân dụng; phương thức cho vay từng lần; thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên; lãi suất 11%/năm, lãi suất cho vay trong hạn là 150% , lãi suất quá hạn là 150%; thời hạn trả nợ là ngày 01/04/2015. Lãi vay trả 01 tháng 01 lần vào ngày 04 hàng tháng; lãi vay được thực hiện theo quy định của ngân hàng trong từng thời kỳ. Bên vay được quyền trả nợ gốc trước hạn, việc trả nợ gốc trước hạn chỉ thực hiện khi bên vay đã trả hết các khoản lãi đến hạn và quá hạn và khoản phí trả nợ gốc trước hạn bằng 1% tổng vốn gốc trả nợ trước hạn.

Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán cho khoản vay trên thì anh Đ và chị K đã thế chấp tài sản sau: Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất của anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K, tại xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là thửa đất số 980, tờ bản đồ số 04, diện tích 381m2 đã được UBND huyện Quỳnh Lưu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I448777 ngày 15/5/1996 theo hợp đồng thế chấp số N.A.0126.14/HĐTC ngày 03/11/2014 giữa ngân hàng TMCP phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long – Chi nhánh Nghệ An – phòng giao dịch Nguyễn Trãi (Nay là Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC – Chi nhánh T) với anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K.

Ngân hàng đã giải ngân cho anh Đ, chị K vay tổng số tiền 200.000.000 đồng. Quá trình vay anh Đ, chị K đã trả cho ngân hàng một số tiền nợ gốc và lãi suất. Trong thời hạn vay anh Đ và chị K thường xuyên không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, đã vi phạm hợp đồng tín dụng. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với anh Đ, chị K yêu cầu trả nợ theo lịch trả nợ tại hợp đồng tín dụng nhưng anh Đ, chị K vẫn không thực hiện đầy đủ.

Theo biên bản hòa giải thành lập vào hồi 07 giờ 00 phút ngày 10/6/2019 do bà Hoàng Thị Nhân hòa gỉai viên trung tâm hòa giải tại Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An thì anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K nhất trí trả nợ cho ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC – Chi nhánh T tính đến ngày 23/5/2019 tổng nợ là 285.606.420đ (Hai trăm tám mươi lăm triệu sáu trăm linh sáu nghìn bốn trăm hai mươi đồng). Trong đó, nợ gốc 194.677.222 đồng, nợ lãi trong hạn 55.864.095 đồng, nợ lãi quá hạn 35.065.103 đồng. Trường hợp anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K không trả hoặc trả không đầy đủ thì xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng.

Tại phiên họp, Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC – Chi nhánh T yêu cầu anh Đ, chị K phải trả nợ tính đến ngày 27/8/2019 tổng số tiền là 279.211.500đ (Hai trăm bảy mươi chín triệu hai trăm mười một nghìn năm trăm đồng); trong đó tiền gốc:180.680.000đồng; tiền lãi suất trong hạn 60.932.300 đồng, tiền lãi suât quá hạn 37.599.200 đồng.

Tiền lãi suất tiếp tục tính từ ngày tiếp theo là ngày 28/8/2019 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC – Chi nhánh Ttheo mức lãi thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng số N.A.0126.14/HĐTD ngày 04/11/2014.

Trường hợp anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC thông qua ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC – Chi nhánh Tcó quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, đấu giá tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số N.A.0126.14/HĐTC ngày 03/11/2014 giữa ngân hàng với anh Đ, chị K.

Tại phiên họp anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K nhất trí trả tiền gốc là lãi suất cho ngân hàng tính đến ngày 27/8/2019 tổng số tiền là 279.211.500đồng. Trường hợp vợ chồng không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên đấu giá các tài sản thế chấp theo quy định.

Nội dung mà các bên thỏa thuận ghi trong biên bản hòa giải thành ngày 10/6/2019 là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không vi phạm điều cấm của pháp luật, đạo đức xã hội, thỏa thuận không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.

Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ lập ngày 08/8/2019 thì diện tích thửa đất mà anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp số N.A.0126.14/HĐTC ngày 03/11/2014 diện tích thực tế còn lại là 238m2.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu quan điểm:

Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 416, 417 và Điều 419 BLTTDS; Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự; Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 để chấp nhận yêu cầu của đương sự: Công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án cụ thể như sau: Anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K có nghĩa vụ trả cho ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC – Chi nhánh T số tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng số N.A.0126.14/HĐTC ngày 04/11/2014 tính đến ngày 27/8/2019 279.211.500đ (Hai trăm bảy mươi chín triệu hai trăm mười một nghìn năm trăm đồng); trong đó tiền gốc: 180.680.000đồng; tiền lãi suất trong hạn 60.932.300 đồng, tiền lãi suât quá hạn 37.599.200 đồng. Trường hợp anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam thông qua ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC – Chi nhánh T có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, đấu giá tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số N.A.0126.14/HĐTC ngày 03/11/2014 giữa ngân hàng với anh Đ, chị K.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: Áp dụng Điều 149 BLTTDS 2015, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc người yêu cầu phải chịu lệ phí theo quy định.

Do đó, có căn cứ để công nhận sự thỏa thuận giữa ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thành Vinh, anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K.

Căn cứ vào khoản 7 Điều 27, Điều 149, Điều 416, 417, 419 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468, 470 của BLDS; Điều 91, 95, 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án thụ lý số 74/2019/TLST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2019, cụ thể như sau:

Anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC – Chi nhánh T số tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng số N.A.0126.14/HĐTD ngày 04/11/2014 tính đến hết ngày 27/8/2019 tổng số tiền là tiền là 279.211.500đ (Hai trăm bảy mươi chín triệu hai trăm mười một nghìn năm trăm đồng); trong đó tiền gốc:180.680.000đồng; tiền lãi suất trong hạn 60.932.300 đồng, tiền lãi suât quá hạn 37.599.200 đồng.

Tiền lãi suất tính từ ngày tiếp theo là ngày 28/8/2019.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án vẫn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng số N.A.0126.14/HĐTD ngày 04/11/2014 giữa ngân hàng với anh Đ, chị K.

Trường hợp anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC thông qua ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC – Chi nhánh T có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, đấu giá tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất của anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K, tại xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là thửa đất số 980, tờ bản đồ số 04, diện tích 381m2 đã được UBND huyện Quỳnh Lưu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I448777 ngày 15/5/1996 theo hợp đồng thế chấp số N.A.0126.14/HĐTC ngày 03/11/2014 được ký kết giữa ngân hàng với anh Phạm Văn Đ và chị Bùi Thị K. Qua đo xem xét thẩm định tại chỗ vào ngày 08/8/2019, thửa đất số 980, tờ bản đồ số 04; tức thửa số 445 tờ bản đồ số 14 ( 119-720 theo bản đồ địa chính tại xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An diện tích còn 238m2.

Điều 2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ngân hàng ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển ABC – Chi nhánh T phải chịu 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ngân hàng đã nộp theo biên lai thu số 0004132 ngày 02 tháng 7 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Điều 4: Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ